Tài liệu Hội thảo quốc tế - Chính sách, pháp luật về tái định cư: Từ lý thuyết đến thực tiễn
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
ĐẠI HỌC QUEENSLAND
TRƯỜNG KINH DOANH
HUE UNIVERSITY
UNIVERSITY OF LAW
THE UNIVERSITY OF QUEENSLAND
UQ BUSINESS SCHOOL
HỘI THẢO QUỐC TẾ
CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ TÁI ĐỊNH CƯ:
TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC TIỄN
INTERNATIONAL CONFERENCE
POLICY AND LAW ON RESETTLEMENT:
FROM THEORIES TO PRACTICE
Thừa Thiên Huế, ngày 14 tháng 12 năm 2017
Thua Thien Hue, 14th December 2017
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
ĐẠI HỌC QUEENSLAND, ÚC
TRƯỜNG KINH DOANH
CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO QUỐC TẾ
“Chính sách, pháp luật về tái định cư: Từ lý thuyết đến thực tiễn”
Ngày 14/12/2017
Thời gian: - Buổi sáng : 08:00 – 11:30
- Buổi chiều: 13:30 – 16:30
Địa điểm:
Hội trường B - Trường Đại học Luật, Đại học Huế
Đường Võ Văn Kiệt, phường An Tây, thành phố Huế
Buổi sáng (ngày 14/12/2017)
Chủ trì:
1. Trường ĐH Luật, ĐH Huế: PGS.TS. Nguyễn Duy Phương
2. Trường Kinh doanh, ĐH Queensland: TS. Carol Bond
08:00 - 08:25 - Đăng ký đại biểu
08:25 – 08:30 - Tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu: ThS. Trần Thị Nhật Anh
08:30 – 08:45
Phát biểu khai mạc Hội thảo của các đơn vị đồng tổ chức
- Trường ĐH Luật, ĐH Huế: PGS.TS. Nguyễn Duy Phương
- Trường Kinh doanh, ĐH Queensland: TS. Carol Bond
08:45 – 09:00 Tham luận 1. Global CSR Principles
Báo cáo viên: TS. Carol Bond – Trường Kinh doanh, ĐH Queensland, Úc
09:00 - 09:15 Tham luận 2. Chính sách quản lý tái định cư ở Việt Nam: Lý thuyết và thực tiễn
Báo cáo viên: TS. Võ Thị Phương Mai – Trường Kinh doanh, ĐH
Queensland, Úc
09:15 – 09:55
09:55– 10:15
Bình luận và thảo luận
Nghỉ giải lao + Chụp ảnh lưu niệm
10:15 – 10:30 Tham luận 3. Những bất cập trong chính sách tái định cư khi nhà nước thu
hồi đất theo Luật đất đai năm 2013
Báo cáo viên: LS. Nguyễn Vinh Diện – Văn phòng Luật sư Vinh Diện và
cộng sự
10:30 - 10:45 Tham luận 4. . Hỗ trợ cư dân tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản tại khu tái định
cư –Thực tiễn nghiên cứu về cư dân vạn đò tại khu tái định cư Hương Sơ,
Thừa Thiên Huế
Báo cáo viên: ThS. Trương Thị Yến – Giảng viên Khoa Công tác xã hội
– ĐH Khoa học, ĐH Huế
10:45 – 11:30
11:30 – 13:30
Bình luận và thảo luận
Ăn trưa
Buổi chiều (ngày 14/12/2017)
Chủ trì:
1. Trường ĐH Luật, ĐH Huế: PGS.TS. Đoàn Đức Lương
2. Trường Kinh doanh, ĐH Queensland: TS. Carol Bond
13:30 – 13:45 Tham luận 5. Đánh giá tác động giới (GIA) cho trường hợp các công trình
thủy điện tại Miền Trung và Tây Nguyên, Việt Nam
Báo cáo viên: Phạm Thị Diệu My – Trung tâm Nghiên cứu phát triển xã hội
13:45 - 14:00 Tham luận 6. Những vướng mắc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật
về tái định cư – Qua thực tiễn tại một số dự án ở khu vực Trung Trung Bộ
Báo cáo viên: CN. Nguyễn Lương Sỹ - Giảng viên khoa Luật Dân sự -
ĐH Luật, ĐH Huế
14:00 – 14:50
14:50 – 15:10
Bình luận và thảo luận
Nghỉ giải lao
15:10 – 15:30 Tham luận 7. Những hạn chế, bất cấp của pháp luật bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi thu hồi đất ở Việt Nam – Một số gợi mở cải cách theo hướng
phát triển bền vững
Báo cáo viên: TS. Đặng Công Cường - Giảng viên khoa Luật Hành
chính - ĐH Luật, ĐH Huế
15:30 – 16:20
Bình luận và thảo luận
16:20 – 16:30 Tổng kết Hội thảo : PGS.TS. Đoàn Đức Lương + Ban Tổ chức
BAN TỔ CHỨC
MỤC LỤC
VÕ THỊ PHƯƠNG MAI
THỰC TIỄN .............................................................................................................1
CAROL BOND
VỰC TRUNG TRUNG BỘ..................................................................................124
HOÀN THIỆN......................................................................................................183
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ..................................................................................202
NGUYỄN HỮU KHÁNH LINH
GOVERNMENT-MANAGED RESETTLEMENT IN VIETNAM:
FROM PRINCIPLES TO PRACTICE
13
26
NHỮNG HẠN CHẾ, BẤT CẤP CỦA PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG,
HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM –
MỘT SỐ GỢI MỞ CẢI CÁCH THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG
ĐẶNG CÔNG CƯỜNG
Người phản biện: PGS.TS. NGUYỄN DUY PHƯƠNG
1. Hạn chế, bất cập và nguyên nhân của nó trong quá trình thực hiện pháp
luật bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất ở Việt Nam
Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hôi đất được pháp luật trao cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, tp. Trực thuộc TW
(được gọi tắt là UBND cấp tỉnh). Việc pháp luật trao cho UBND cấp tỉnh ban hành
chính sách về lĩnh vực này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định giá trị tài sản được
bồi thường, mức hỗ trở và nơi tái định cư phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của
địa phương, quy hoạch phát triển kinh tế và dân cư của địa phương và nguồn lực kinh
tế cung cấp cho việc này của địa phương, cũng như nhu cầu, tập quán của người dân ở
địa phương. Tuy nhiên, việc có đến 64 quy định chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư tiềm ẩn nguy cơ bất bình đẳng về quyền, nghĩa vụ của người có quyền sử dụng
đất ở các địa phương khác nhau, nguy cơ đe doạ đến tính thống nhất của chính sách
này nói riêng và pháp luật đất đai nói chung. Ngoài ra, chính sách thu hồi, bồi thường,
hổ trợ và tái định cư có ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định đầu tư của các nhà đầu
tư nên tiềm ẩn nguy cơ UBND cấp tỉnh vì nhu cầu thu hút đầu tư đã đưa ra chính sách
bồi thường, hỗ trợ và tái định khi thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế theo hướng
thuận lợi cho nhà đâu tư khiến cho tình trạng bất công trong quyền lợi được hưởng của
người bị thu hồi đất ngày càng sâu sắc giữa các địa phương khác nhau. Chính điều này
đã khiến cho một số người bị thu hồi đất bức xúc, phản đối khi so sánh giá trị được bồi
thường, hỗ trợ của mình thấp hơn nhiều lần so với những người cũng có đất được thu
hồi tương tự mình ở các địa phương khác.
Thứ hai, quy định về việc định giá đất tính bồi thường, hổ trợ và tái định cư còn
mang nặng tính hành chính và thiếu cơ chế thẩm định độc lập nên thường xuyên có
TS., Giảng viên Trường Đại học Luật, Đại học Huế
33
tình trạng giá đất được xác định tính bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có khoảng cách
xa với giá thị trường và giá trị thực của tài sản nên người bị thu hồi đất thường không
thỏa mãn với mức bồi thường về đất, ví dụ: Ở Quảng Bình, khi định giá tài sản trên đất
để tính tiền bồi thường đã áp giá: Một cây mít đã và đang thu hoạch (có quả) được bồi
thường 299.000đ/cây, trong khi đó một cây đa cao 2m và đường kính 10cm được bồi
thường với giá 415.000đ/cây, còn cây có đường kính 30cm có giá bồi thường
1.069.000đ/cây1, như vậy là loại cây có giá trị kinh tế cao hơn và đòi hỏi chăm bón kỳ
công hơn lại được bồi thường ít hơn). Những vấn đề này là nguyên nhân chính dẫn đến
thắc mắc, khiếu nại của người dân. Tương tự như trên, UBND tỉnh TT. Huế thì quyết
định đơn giá đền bù 1 cây bồ đề là 35.000 đ/1 cây, trong khi 1 cây bạch đàn chỉ
22.000đ/1 cầy (thời kỳ chăm sóc năm 3)2
Thứ ba, căn cứ để xác định đất, tài sản trên đất và tài sản gắn liền với đất được
bồi thường và cơ sở xác định giá đất còn mang nặng tính hành chính và chưa thực sự
phù hợp với thực tế quản lý đất đai
Một là, căn cứ để xác định đất được bồi thường là bản đồ địa chính của cơ quan
quản lý đất đai địa phương nhưng thực tế nhiều địa phương chưa hoàn thành việc trích
đo, cắm mốc, cấp GCN quyền sử dụng đất, nên việc xác định điều kiện bồi thường
theo quy định của pháp luật có nhiều trường hợp gặp khó khăn, nhất là các trường hợp
trước đây chính quyền cấp xã tự ý bán đất không đúng thẩm quyền đến nay chưa được
cấp GCN quyền sử dụng đất, mặc dù các trường hợp này theo Điều 11 Nghị định
47/2014/NĐ-CP thì vẫn được bồi thường về đất, song vì nhiều lý do mà các giấy tờ
chứng minh thời điểm giao đất không còn được lưu giữ, dẫn đến việc xác định diện
tích bồi thường phức tạp, khó giải quyết. Bên cạnh đó, vấn đề bồi thường trong trường
hợp có sự chênh lệch giữa diện tích đo đạc thực tế với diện tích ghi trên giấy tờ về
quyền sử dụng đất (Điều 12 Nghị định 47/2014/NĐ-CP) trong thực tiễn cũng khó rạch
ròi, khó xác định sự chênh lệch do việc đo đạc trước đây thiếu chính xác hay do khi kê
khai đăng ký trước đây người sử dụng đất không kê khai hết diện tích, hoặc do người
sử dụng đất nhận chuyển nhượng, do khai hoang, hay do người sử dụng đất lấn chiếm
trái phép.
1 Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND của UBND tỉnh Quảng Bình;
2 Quyết định số 67/2015/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế;
34
Hai là, quy định cơ sở để xác định giá đất cụ thể để tình bồi thường chưa rõ
ràng và khó áp dụng ở một số loại đất trong thực tiễn. Theo quy định của Luật Đất đai
năm 2013, việc định giá đất cụ thể để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được
xác định trên cơ sở "giá đất phổ biến trên thị trường" hoặc giá đất đã được UBND cấp
tỉnh công bố. Để xác định một cách đầy đủ giá đất phổ biến trên thị trường trong điều
kiện bình thường là việc rất khó khăn ở những địa phương chưa có thị trường bất động
sản thực sự hoạt động công khai minh bạch; các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện
việc theo dõi, giám sát và tổng hợp đầy đủ, chính xác và kịp thời các thông tin giao
dịch về quyền sử dụng đất trên từng địa bàn, nhất là đối với đất ở là rất khó khăn. Đối
với đất nông nghiệp, thường thì rất ít khi xảy ra hoạt động giao dịch về chuyển quyền
sử dụng giữa những người sản xuất nông nghiệp với nhau, nên cơ sở giá thị trường
phổ biến là phi thực tế. Đối với những loại đất được bồi thường theo giá đã được
UBND tỉnh quy định thì khó thực hiện, vì nhiều lý do, như: tình trạng sử dụng đất sai
mục đích vẫn còn xảy ra khá nhiều, trong đó chủ yếu là người dân tự chuyển đổi mục
đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất ở hoặc đất phi nông nghiệp khác. Khi bồi
thường, người bị thu hồi đất luôn muốn được bồi thường với giá đất càng cao càng tốt,
vì vậy trong nhiều trường hợp, người sử dụng đất cố tình đòi bồi thường theo giá đất ở
hay giá đất phi nông nghiệp mà họ tự chuyển đổi mục đích trái pháp luật. Trong
trường hợp này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải chứng minh được rằng người
dân sử dụng đất sai mục đích.
Ba là, giá bồi thường đối với đất nông nghiệp hiện nay rất thấp, nhưng khi thực
hiện xong dự án thì giá đất tăng lên gấp hàng chục lần, có khi hàng trăm lần khiến cho
người dân cảm thấy bị bất công, “xót của”, dẫn đến sự thiếu đồng thuận trong áp giá
bồi thường, chậm bàn giao đất. Chẳng hạn, dự án khu dân cư xã Đồng Trạch (huyện
Bố Trạch) có trường hợp hộ ông Dương Đình Viết sau khi thu hồi đất, số diện tích còn
lại vẫn đủ để ở theo quy định, trường hợp này hội đồng bồi thường thực hiện bồi
thường bằng tiền nhưng người bị thu hồi đất không đồng ý, đòi bồi thường bằng đất ở
để sau này cho con cái, tuy nhiên do địa phương không có quỹ đất nên không thực
hiện theo yêu cầu của ông. Trường hợp khác, khi thực hiện dự án đường BOT ở xã Đại
Trạch (huyện Bố Trạch), có hộ ông Lê Văn Cần khiếu nại hội đồng giải phóng mặt
bằng huyện bồi thường thiếu diện tích và bồi thường không đúng loại đất cho gia đình
35
ông, nhưng qua xác minh thì thực tế một số diện tích đất của ông nằm trong phần đất
bảo vệ, bảo trì đường bộ không đủ điều kiện cấp GCN quyền sử dụng đất, không thuộc
các trường hợp đủ điều kiện bồi thường về đất; trong GCN quyền sử dụng đất của ông
chỉ có 100m2 đất ở, phần diện tích bị thu hồi chỉ là đất vườn nên hội đồng giải phóng
mặt bằng chỉ bồi thường theo giá đất vườn.3
Thứ tư, một bộ phận dân cư lợi dụng chính sách này để trục lợi
Nhiều trường hợp người dân sử dụng đất sai mục đích hoặc tranh thủ xây dựng
công trình, trồng cây trên đất quy hoạch để đòi tiền bồi thường cũng đưa lại khó khăn
cho các cơ quan làm công tác bồi thường, chẳng hạn như tại dự án khu du lịch và nhà
ở sinh thái Sun Spa - Đảo Yến có tới 27 hạng mục không được bồi thường do xây
dựng sau khi có thông báo thu hồi đất hoặc xây dựng sai mục đích, xây dựng trên đất
không đủ điều kiện bồi thường về đất. Tuy nhiên, trên thực tế không phải dễ loại bỏ
những đối tượng phát sinh không thuộc diện bồi thường, và nhiều công trình xây dựng
trái phép mặc nhiên vẫn được bồi thường, điều này thể hiện sự thiếu chặt chẽ trong
quản lý đất đai cũng như trong việc áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất, tạo tâm lý “nhờn luật” trong một số người dân.
Thứ năm , việc áp giá bồi thường đối với nhà và các công trình xây dựng trên
thực tế còn mang tính tương đối, bởi nhà cửa, công trình xây dựng từ hình thức đến
chất lượng vô cùng đa dạng, muôn hình muôn vẻ, trong khi quy định về mức bồi
thường đối với nhà, công trình xây dựng chỉ dựa trên loại nhà, công trình mà không
thể tính toán hết được các chi tiết khác. Có những ngôi nhà nhìn bề ngoài rất bề thế
nhưng chất lượng, kết cấu nhà không bằng ngôi nhà bên cạnh có kiểu dáng đơn giản,
nhà nhỏ nhưng giá thành xây dựng cao hơn..., điều này cũng góp phần gây sự so sánh,
phản kháng từ phía người dân.4
2. Những gợi mở cải cách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
thu hồi đất theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam
Thứ nhất, cần bãi bỏ quy định trao cho UBND cấp tỉnh thẩm quyền ban hành
chính sách thu hồi, bồi thường, hổ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nhằm
3 Nguyễn Anh Đông (2017), thực tiễn thực hiện pháp luật về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất tại các dự án kinh tế- xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, Luận văn thạc sĩ, tr. 40-45;
4 Nguyễn Anh Đông (2017), thực tiễn thực hiện pháp luật về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất tại các dự án kinh tế- xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, Luận văn thạc sĩ;
36
ngăn ngừa tình trạng thiếu tính thống nhất của pháp luật trong lĩnh vực này. Thiết
nghĩ, thẩm quyền ban hành chính sách thu hồi, bồi thường, hổ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất phải được Chính phủ ban hành để bảo đảm được tính thống nhất
của việc thực thi hoạt động này của cơ quan công quyền trên phạm vi cả nước, đồng
thời bảo đảm được tính quốc gia của lý do thu hồi đất.
Thứ hai, thay đổi phương thức, cơ sở xác định giá đất, giá tài sản trên đất và tài
sản gắn liền với đất để bồi thường, hổ trợ và tái định cư cho người sở hữu quyền sử
dụng đất và tài sản khi thu hồi đất.
Phương thức xác định giá bồi thường hiện hành chỉ do cơ quan hành chính nhà
nước có thẩm quyền tiến hành nên mang nặng tính chủ quan, hành chính mà thiếu đi
tính khách quan nên mức độ minh bạch và công bằng còn hạn chế, đặc biệt là một số
dự án đầu tư mà địa phương có nguyện vọng được thực hiện nhanh chóng ở địa
phương. Chính vì thế, để bảo đảm công bằng và lợi ích của người được thu hồi đất thì
cần cải cách quy trình xác định giá đất, tài sản để bồi thường khi thu hồi đất bằng cách
bổ sung các thiết chế độc lập bên ngoài cơ quan nhà nước tiến hành thẩm định giá đất,
tài sản trước khi cơ quan nhà nước quyết định giá đất, tài sản để bồi thường.
Thứ ba, việc quyết định thu hồi đất, quyết định giá đất, tài sản để bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất vẫn chủ yếu do cơ quan nhà nước quyết
định gần như hoàn toàn do cơ quan nhà nước thực hiện mà thiếu sự hiện diện của
người bị thu hồi đất tham gia (trừ việc tổ chức kiểm kê, thực hiện thu hồi, bồi thường
và giải quyết khiếu nại) cho nên giữa cơ quan thu hồi đất và người bị thu hồi đất,
người được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có khoản cách xa về nhận thức, tâm tư,
tình cảm và thái độ. Ngoài ra, việc hạn chế sự tham gia của người dân trong quá trình
ra quyết định thu hồi, định giá đất, tài sản khiến cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của
họ không được chia sẽ, không được đề cập đầy đủ trước khi quyết định thu hồi. Điều
này tạo ra nguy cơ người dân có thái độ phản đối và cho rằng cơ quan nhà nước không
tôn trọng quyền hợp pháp của họ, họ cảm thấy dương như không có quyền gì trên
mãnh đất của mình. Việc thiếu vắng sự tham gia của người dân trong quá trình ban
hành quyết định thu hồi, quyết định dự án tái định cư còn dẫn đến hậu quả lãng phí
nguồn lực của Nhà nước, xã hội vì nơi ở mới (nơi tái định cư) không phù hợp với nghề
nghiệp, tập tục và nhu cầu của họ nên họ hoặc không đến ở tại nơi được bố trí tái định
37
cư hoặc ở được một thời gian ngắn phải dời đi nơi khác vì không phù hợp với nghề
nghiệp của họ. Chính vì thế, để bảo đảm cho người dân được tham gia vào quy trình
thu hồi đất, bồi thường, hổ trợ và tái định cư để bày tỏ ý chí, nguyện vọng và đòi hỏi
lợi ích hợp pháp, hợp lý với tư cách là người sở hữu quyền sử dụng đất, tài sản thì cần
cải cách theo hướng phải có sự tham gia của người dân có quyền sử dụng đất, sở hữu
tài sản tham gia vào quá trình đối thoại trong quá trình ban hành quyết định thu hồi
đất, quyết định định giá đất, giá tài sản trên đất bị thu hồi.
Thứ năm, cần đa dạng hoá quy trình bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu
hồi đất để bảo đảm phù hợp tính chất pháp lý của quan hệ pháp luật phát sinh trong
mỗi hoạt động thu hồi đất. Thiết nghĩ, cần tách bạch quy trình bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi thu hồi đất vì an ninh, quốc phòng với quy trình bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi thu hồi đất vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công
cộng. Thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế mặc dù có tính đến lợi ích quốc gia
những thực tế đất được thu hồi sẽ giao cho doanh nghiệp- một chủ thể không thực thi
quyền lực nhà nước, không đại diện cho lợi ích công, cho nên mối quan hệ thực chất
trong hoạt động này là quan hệ giữ người có quyền sử dụng đất bị thu hồi với doanh
nghiệp được giao đất sau khi thu hồi. Là một hoàn hệ pháp luật có tính chất dân sự rõ
rệt nên cần được đề cao việc áp dụng các nguyên tắc của pháp luật dân sự trong việc
thiết lập cơ chế bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất vì mục tiêu phát triển
kinh tế. Việc Nhà nước (cơ quan có thẩm quyền thu hổi, thực hiện bồi thường, hỗ trở
và tái định cư) chỉ nên dừng lại ở vai trò trung gian và mang tính chất trợ giúp những
người bị thu hồi đất để ngăn ngừa họ bị thiệt thòi trong quá trình thoả thuận với doanh
nghiệp được giao đất được thu hồi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Anh Đông (2017), thực tiễn thực hiện pháp luật về bồi thường thiệt
hại, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại các dự án kinh tế- xã hội trên địa
bàn tỉnh Quảng Bình, Luận văn thạc sĩ
2. Trần Văn Duy (2017), Thực hiện pháp luật về bồi thường thiệt hại khi thu hồi
đất nông nghiệp của nông dân”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật điện tử, cập nhật ngày
03/9/2017.
38
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Hội thảo quốc tế - Chính sách, pháp luật về tái định cư: Từ lý thuyết đến thực tiễn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tai_lieu_hoi_thao_quoc_te_chinh_sach_phap_luat_ve_tai_dinh_c.pdf

