Tài liệu Hội thảo quốc tế - Các cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước trên thế giới và ở Việt Nam

KHOA LUẬT -  
KHOA LUẬT - ĐHQG HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐH HUẾ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHAMPASACK  
HỘI THẢO QUỐC TẾ  
CÁC CƠ CHẾ PHÁP LÝ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC  
NHÀ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM  
ກອງປະຊຸມສາກົນ  
ບັນດາກົນໄກປະມວນນິຕິກຳທາງດ້ານກົດໝາຍວ່າດ້ວ  
ຍການຄວບຄຸມ  
ອຳນາດແຫ່ງລັດຂອງບັນດາປະເທດໃນໂລກ ແລະ ຫວຽດນາມ  
Thừa Thiên Huế, ngày 03/11/2017  
KHOA LUẬT -  
KHOA LUẬT - ĐHQG HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐH HUẾ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHAMPASACK  
CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO QUỐC TẾ  
“Các cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước trên thế giới và ở Việt Nam”  
Ngày 03/11/2017  
Thời gian: - Buổi sáng : 08:00 – 11:30  
- Buổi chiều: 13:30 – 17:00  
Địa điểm:  
Hội trường B - Trường Đại học Luật, Đại học Huế  
Đường Võ Văn Kiệt, phường An Tây, thành phố Huế  
Buổi sáng (ngày 03/11/2017)  
07:30 - 08:00 - Đăng ký đại biểu  
08:00 – 08:05 - Tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu: ThS. Trần Thị Nhật Anh  
08:05 – 08:20  
Phát biểu khai mạc, chào mừng  
- Phát biểu khai mạc: PGS.TS. Đoàn Đức Lương (Trường Đại học Luật, Đại  
học Huế)  
- Phát biểu chào mừng: PGS.TS. Nguyễn Thị Quế Anh (Khoa Luật, ĐHQG  
Hà Nội)  
Chủ trì phiên thứ nhất:  
1. Trường ĐH Luật, ĐH Huế: PGS.TS. Đoàn Đức Lương  
2. Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội: GS.TS. Nguyễn Đăng Dung  
08:20 – 08:35 Tham luận 1. Các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trên thế giới và việc  
áp dụng ở Việt Nam  
Báo cáo viên: PGS.TS. Vũ Công Giao (Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội)  
08:35 – 08:50 Tham luận 2. Nhà nước pháp quyền và yêu cầu về kiểm soát quyền lực nhà  
nước  
Báo cáo viên: TS. Lê Thị Nga (Trường Đại học Luật, Đại học Huế)  
08:50– 9h:30  
9:30 – 10:00  
Bình luận và thảo luận  
Nghỉ giải lao + Chụp ảnh lưu niệm  
Chủ trì phiên thứ hai:  
1. Trường ĐH Luật, ĐH Huế: TS. Lê Thị Nga  
2. Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội: PGS.TS. Vũ Công Giao  
10:00 – 10:15 Tham luận 3. Kiểm soát quyền lực nhà nước – Những vướng mắc cần tháo  
gỡ hiện nay  
Báo cáo viên: GS.TS. Nguyễn Đăng Dung (Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội)  
10:15 - 10:30 Tham luận 4. Cơ chế kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực  
hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp ở Việt Nam  
Báo cáo viên: GS.TS. Phạm Hồng Thái  
10:30 - 11:10  
Bình luận và thảo luận  
Nghỉ trưa  
12:00 – 13:15  
Buổi chiều (ngày 03/11/2017)  
Chủ trì phiên thứ 3:  
1. Trường ĐH Luật, ĐH Huế: PGS.TS. Nguyễn Duy Phương  
2. Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội: PGS.TS. Đặng Minh Tuấn  
13:30 – 13:45 Tham luận 1. Trách nhiệm hiến pháp và vấn đề kiểm soát quyền lực nhà  
nước ở Việt Nam  
Báo cáo viên: PGS.TS. Nguyễn Thị Quế Anh, TS. Mai Văn Thắng (Khoa  
Luật - ĐHQG Hà Nội)  
13:45 - 14:00 Tham luận 2. Giới hạn của quyền lập pháp – Tiền đề cơ bản bảo đảm kiểm  
soát quyền lực của Quốc hội Việt Nam  
Báo cáo viên:TS. Đặng Công Cường (Trường Đại học Luật, Đại học Huế)  
14:00 – 14:40  
Bình luận và thảo luận  
Nghỉ giải lao  
14:40 - 15:00  
Chủ trì phiên thứ 4:  
1. Trường ĐH Luật, ĐH Huế: TS. Lê Thị Nga  
2. Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội: GS.TS. Phạm Hồng Thái  
15:00 – 15:15 Tham luận 3. Cơ chế bảo hiến theo Hiến pháp năm 2013: Những khó khăn,  
thách thức và triển vọng  
Báo cáo viên: PGS.TS. Đặng Minh Tuấn (Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội)  
Báo cáo viên: ThS. Nguyễn Thị Hoài Phương (Trường Đại học Luật, Đại  
học Huế)  
15:30 - 16:10  
Bình luận và thảo luận  
Tổng kết Hội thảo: PGS.TS. Nguyễn Duy Phương  
BAN TỔ CHỨC  
MỤC LỤC  
CÁC CƠ CHẾ PHÁP LÝ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC  
NHÀ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI  
Trang  
NGUYỄN THỊ HOÀI PHƯƠNG - NGUYỄN THỊ NỮ  
CÁC CƠ CHẾ PHÁP LÝ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC  
NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ CHUNG  
CÁC CƠ CHẾ PHÁP LÝ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC  
NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ CỤ THỂ  
HỌC THUYẾT TRÌNH TỰ CÔNG BẰNG VÀ VIỆC KIỂM SOÁT  
QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM  
BÙI TIẾN ĐẠT*  
Tóm tắt:  
Học thuyết trình tự công bằng (due process) là nền tảng của hiến pháp vì nó  
đảm bảo những giá trị của nhà nước pháp quyền. Bài viết bàn về lược sử phát triển của  
học thuyết trình tự công bằng (due process) trên thế giới. Bài viết này cũng đối chiếu,  
bình luận và gợi mở cho việc áp dụng học thuyết thủ tục công bằng trong việc kiểm  
soát quyền lực nhà nước trên cơ sở Hiến pháp Việt Nam năm 2013.  
1. Lược sử học thuyết trình tự công bằng (due process)  
Năm 2015 thế giới kỷ niệm 800 năm ra đời của Đại Hiến chương về Tự do  
1215 (theo văn bản gốc tiếng Latin là “Magna Carta Libertatum”, dịch sang tiếng Anh  
là “Great Charter of the Liberties”). Magna Carta đã trở thành một thuật ngữ quốc tế  
mà không nhất thiết phải dịch sang một ngôn ngữ nào đó. Magna Carta chứa đựng một  
học thuyết nổi tiếng trong chính trị học và luật học – nguyên tắc trình tự công bằng của  
pháp luật (due process of law) – và thường được gọi ngắn gọn là trình tự công bằng  
(due process).1  
Hiện nay, học thuyết về trình tự công bằng thường được thảo luận theo nghĩa  
hẹp của nó, tức gắn với các quyền xét xử công bằng trong tố tụng hình sự (criminal  
fair trial rights) đã được khẳng định trong các bộ luật quốc tế về quyền con người2  
cũng như hiến pháp nhiều quốc gia (trong đó có Việt Nam). Điều này có vẻ thể hiện sự  
tương thích cao giữa nguyên lý trình tự công bằng khởi nguồn từ Magna Carta và quan  
niệm về nguyên tắc xét xử công bằng trong thời hiện đại. Tuy nhiên, nguyên lý trình tự  
công bằng có nội hàm rộng hơn quyền xét xử công bằng trong tố tụng hình sự rất  
nhiều. Điều này sẽ được chứng tỏ qua chính tinh thần của lời văn Magna Carta 800  
năm trước. Chương 29 Magna Carta nêu: “Không một người tự do nào bị cầm tù hoặc  
tước đoạt tài sản, tự do, phong tục, hoặc bị ngăn cấm, đày ải, đối xử tàn ác, và cũng  
không ai bị ép buộc thực hiện những điều đó, mà không dựa trên một phán quyết hợp  
pháp của những thành viên cộng đồng hoặc theo luật pháp của quốc gia (the law of the  
*TS., Giảng viên Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội  
1 Trong bài này, đôi khi tác giả giữ nguyên các thuật ngữ tiếng Anh “due process of law” hay “due process” vì hai thuật ngữ  
này đã trở nên rất phổ biến trong luật hiến pháp hiện đại đến nỗi không nhất thiết phải dịch ra ngôn ngữ khác. Hơn nữa, việc  
dịch sang ngôn ngữ khác đôi khi không thể hiện đầy đủ nội dung của “due process”.  
2 Xem: Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người 1948 (UDHR), Điều 14 Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị  
1966 (ICCPR) và Điều 6 Công ước châu Âu về quyền con người 1950 (ECHR).  
1
   
land). Chúng ta không phản bội, phủ nhận hay khước từ công lý và quyền của bất kỳ  
ai”.3  
Một điều đáng lưu ý là, mặc dù Magna Carta được coi là khởi nguồn của học  
thuyết “due process of law”,4 thuật ngữ “due process of law” lại không tồn tại trong lời  
văn Đại Hiến chương. Cho đến năm 1354, một đạo luật đã lặp lại tinh thần của Magna  
Carta nhưng thay thế “the law of the land” bằng “due process of the law”: “không ai…  
bị trục xuất, tù tội, tước quyền sống hoặc tự do, mà không đòi hỏi tuân thủ trình tự  
pháp lý công bằng (due process of the law)”5. Đây có thể nói là văn bản đầu tiên chính  
thức sử dụng thuật ngữ “due process of law”.6 Năm 1642 (tức gần 300 năm sau đạo  
luật 1354 và hơn 400 năm sau Magna Carta), Sir Coke đã giải thích rằng “due process  
of law” đồng nghĩa với “the law of the land” trong Magna Carta.7  
Một điều thú vị nữa là, mặc dù nước Anh là cái nôi của quan niệm về trình tự  
công bằng, học thuyết này lại được tiếp nhận một cách chính thức và phát triển mạnh  
cho đến ngày này tại Hoa Kỳ. Thật vậy, trong suốt lịch sử nước Anh rất hiếm khi thuật  
ngữ “due process of law” được nhắc đến trong các đạo luật mang tính hiến pháp cũng  
như trong các bản án của tòa án. Thay vào đó, nền luật học Anh hay đề cập đến những  
khái niệm gần gũi với due process như công lý tự nhiên (natural justice) hay tính hợp  
lý (reasonableness). Đạo luật về quyền con người 1998 (Human Rights Act) – một văn  
bản mang tính hiến pháp, không đề cập đến due process cũng như không liệt kê các  
quyền cụ thể mà chủ yếu cam kết thực hiện các cơ chế về quyền đã được quy định tại  
Công ước Châu Âu về quyền con người và được giải thích bằng hệ thống án lệ đồ sộ  
của Tòa án Nhân quyền Châu Âu.  
Trong khi đó, lời văn hiến pháp Hoa Kỳ đã long trọng ghi nhận “due process of  
law” với tư cách là một nguyên tắc cốt lõi. Tu chính án 5 (năm 1791) tuyên bố:  
“Không ai bị… tước bỏ tính mạng, tự do và tài sản mà không dựa trên trình tự pháp  
luật công bằng”.8 Tu chính án 14 (năm 1868) một lần nữa khẳng định: “không bang  
3 Phần in nghiêng do tác giả nhấn mạnh. Lời văn này nằm trong Magna Carta phiên bản 1297, được viết bằng tiếng Latin và  
dịch sang tiếng Anh. Theo phiên bản Magna Carta đầu tiên năm 1215, lời văn này nằm trong Chương 39. Nhưng theo các bản  
sửa đổi từ năm 1225, phần này thuộc chương 29. Có nhiều bản dịch khác nhau, một trong số đó là: “No Freeman shall be  
taken or imprisoned, or be disseised of his Freehold, or Liberties, or free Customs, or be outlawed, or exiled, or any other  
wise destroyed; nor will We not pass upon him, nor [condemn him,] but by lawful judgment of his Peers, or by the Law of the  
Land. We will sell to no man, we will not deny or defer to any man either Justice or Right”. (theo  
http://www.legislation.gov.uk/aep/Edw1cc1929/25/9/section/XXIX)  
4 Nathan S. Chapman and Michael W. McConnell, 'Due Process as Separation of Powers' (2012) 121 Yale Law Journal 1672  
1681.  
5 Phần in nghiêng do tác giả nhấn mạnh. Nguyên văn tiếng Anh: “no Man of what Estate or Condition that he be, shall be put  
out of Land or Tenement, nor taken, nor imprisoned, nor disinherited, nor put to Death, without being brought in Answer by  
due Process of the Law” (nt 1682).  
6 Nt 1682.  
7 Edward Coke, The Second Part of the Institutes of the Laws of England 50 (photo. reprint 2002) (London, W. Clarke &  
Sons 1817) (1642) (trích dẫn trong nt 1683).  
8 “No person shall be … deprived of life, liberty or property without due process of law …”  
2
 
nào tước bỏ tính mạng, tự do và tài sản của bất kỳ ai mà không dựa trên trình tự pháp  
luật công bằng”.9  
Vậy, đâu là mối liên hệ giữa hai khái niệm “the law of the land” trong Magna  
Carta và “due process of law” trong hiến pháp Hoa Kỳ. Để nắm bắt chính xác tinh thần  
của Chương 29 Magna Carta, chúng ta cần hiểu bối cảnh nước Anh lúc đó. Những  
năm đầu thế kỷ 13, dưới sức ép mạnh mẽ trong xã hội Vua John đã buộc phải chấp  
nhận Magna Carta – văn bản nhằm hạn chế những quyền lực tuyệt đối của mình.  
Quyền lực nhà nước (của vua) không còn tuyệt đối mà phải tuân thủ “luật pháp quốc  
gia”. “Luật pháp quốc gia” ở đây bao gồm cả thông luật (common law) và đạo luật  
(statute law).10 Như vậy, Chương 29 Magna Carta đã thể hiện tư tưởng xóa bỏ quyền  
lực quân chủ tuyệt đối và do đó quyền lực nhà nước phải bị hạn chế - một tư tưởng cốt  
lõi của học thuyết nhà nước pháp quyền (rule of law), đã trở thành nền tảng của các  
hiến pháp hiện đại. Vì vậy, theo nghĩa rộng nhất, học thuyết “due process of law”  
cũng chính là các giá trị về nhà nước pháp quyền đã được khẳng định trong Magna  
Carta. Hay nói cách khác, hai thuật ngữ “rule of law” và “due process” khá tương  
đồng11 và thậm chí có thể thay thế cho nhau.12 Sullivan và Massaro đã khẳng định  
những nguyên tắc của nhà nước pháp quyền thể hiện trong học thuyết trình tự công  
bằng như sau:  
Các thủ tục công bằng (fair procedures), đặc biệt là quyền được cảnh báo và  
quyền được xét xử;  
Tính vô tư (impartiality) của các cơ quan ra quyết định;  
Tôn trọng các các tiêu chuẩn đạo đức và truyền thống;  
Luật pháp không áp dụng hồi tố (not retrospective but prospective);  
Các thủ tục pháp lý mang tính minh bạch và dễ hiểu (transparency and  
accessibility);  
Các hành vi của nhà nước phải tương xứng (proportionality) với mục đích;  
Tôn trọng tự do cá nhân (individual autonomy and liberty);  
Tôn trọng quyền bình đẳng (equality);  
Tôn trọng sự phân chia quyền lực (separation of powers) và những cơ chế  
khác nhằm giới hạn quyền lực nhà nước.13  
9 “…nor shall any State deprive any person of life, liberty, or property, without due process of law…”  
10 Chapman and McConnell, tlđd 4 1683.  
11 Geoffrey Marshall, 'Due Process in England' in J. Roland Pennock and John W. Chapman (eds), Due Process (New York  
University Press, 1977) 69.  
12 E. Thomas Sullivan and Toni M. Massaro, The Arc of Due Process in American Constitutional Law (Oxford University  
Press, 2013) 1.  
13 Nt xiii.  
3
 
Tương tự, Geoffrey Marshall cho rằng những thành tố cấu thành nên khái niệm  
nhà nước pháp quyền hay khái niệm trình tự công bằng bao gồm: công bằng (fairness),  
vô tư (impartiality), độc lập (independence), bình đẳng (equality), công khai  
(openness), hợp lý (rationality), chắc chắn (certainty) và phổ quát (universality).14 Tóm  
lại, học thuyết due process có mục đích tối thượng là bảo vệ người dân trước nguy cơ  
lạm quyền của nhà nước.15 Nhà nước ở đây bao gồm cả ba nhánh quyền lực: lập pháp,  
hành pháp và tư pháp. Gần đây, Chapman và McConnell cũng đã khẳng định “trình tự  
công bằng chính là phân chia quyền lực”.16  
Lịch sử phát triển của luật học cho thấy khái niệm “trình tự công bằng” không  
chỉ giới hạn quyền lực của cơ quan hành pháp, tư pháp thông qua việc đảm bảo các  
quyền về thủ tục mà còn giới hạn quyền lực của cơ quan lập pháp khi trao cho tòa án  
thẩm quyền đánh giá tính hợp hiến của những đạo luật giới hạn quyền con người (do  
lập pháp ban hành). Do đó, có hai loại trình tự công bằng: trình tự công bằng thủ tục  
(procedural due process) và trình tự công bằng nội dung (substantive due process).  
Trong luật hiến pháp Hoa Kỳ, mặc dù vẫn còn tranh cãi, đa số đã chấp nhận về sự tồn  
tại của trình tự công bằng nội dung, bên cạnh trình tự công bằng thủ tục. Trong một  
nghiên cứu hiếm hoi ở Việt Nam về “quy trình tố tụng chuẩn”, GS.TS. Nguyễn Đăng  
Dung đã lập luận rằng “due process of law” là một “quá trình hợp pháp” gồm hai yêu  
cầu: (1) “tính hợp lý hay chính đáng về nội dung” của quy phạm pháp luật; và (2) “tính  
chính đáng của quyền lực nhà nước về mặt thủ tục” của các hành vi công quyền.17  
Về mặt diễn đạt, cụm từ “procedural due process” có vẻ rườm rà và khó hiểu vì  
“process” và “procedural” đều có nghĩa là “thủ tục”, “trình tự”, “quy trình”. Theo đó,  
có thể dịch “procedural due process” là “trình tự công bằng (về/mang tính) thủ tục”.  
Hoặc nếu hiểu “process” là “phương pháp”, “phương thức”18 thì có thể dịch cụm từ  
trên là “phương thức đúng đắn về thủ tục”. Tóm lại, nếu bỏ qua những cách dịch thuật  
theo nghĩa đen,19 có thể hiểu tinh thần cơ bản của “due process” là phương thức đúng  
đắn để xử lý một vấn đề pháp lý ảnh hưởng đến quyền con người. Nhiều khi “due  
process” được hiểu rất rộng, tương tự như các khái niệm “hợp lý” (reasonableness),  
“công lý” (justice) hay “công bằng” (fairness).20 Theo cách diễn giải này, “procedural  
14 Marshall, tlđd 4 70.  
15 Sullivan and Massaro, tlđd 12 xiii.  
16 Chapman and McConnell, tlđd 4.  
17 Nguyễn Đăng Dung, Nhà nước pháp quyền là tinh thần pháp luật hay là đúng quy trình?. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN,  
Luật học, Tập 30, Số 1 (2014) 54-61, tr. 56.  
18 Longman Dictionary of Contemporary English (PC version 2009).  
19 Như trên đã nói, chính vì khái niệm “due process” khá rộng mà nếu dịch theo nghĩa đen sẽ không bao quát hết nội dung,  
nên tác giả giữ nguyên thuật ngữ tiếng Anh khi cần thiết.  
20 Chapman and McConnell, tlđd 4 1676.  
4
due process” có thể được hiểu là thủ tục đúng đắn để xử lý một vấn đề pháp lý ảnh  
hưởng đến quyền con người. “Procedural due process” điều chỉnh quyền hành pháp và  
quyền tư pháp. Còn “substantive due process” điều chỉnh quyền lập pháp khi đòi hỏi  
một phương pháp đúng đắn để đánh giá tính hợp lý của các đạo luật trong việc định ra  
hay giới hạn các quyền con người.  
2. Trình tự công bằng thủ tục (procedural due process)  
Trình tự công bằng thủ tục và quyền xét xử công bằng  
Hiện nay, tinh thần vể đảm bảo những quyền thủ tục được ủng hộ rộng rãi và  
được ví như một giá trị phổ quát trong chủ nghĩa hiến pháp hiện đại.21 Các quyền về  
thủ tục là những yếu tố cấu thành nên quan niệm về “procedural due process”. Quyền  
được hưởng những thủ tục công bằng là công cụ bảo vệ người dân khi giao tiếp với cơ  
quan hành pháp và tư pháp. Các nước theo hệ thống thông luật (common law) ghi  
nhận học thuyết về công lý tự nhiên (natural justice), phản ánh sự công bằng về thủ  
tục. Cốt lõi của công lý tự nhiên thể hiện qua hai nguyên tắc: (1) Mọi người có quyền  
được thông báo đầy đủ về cáo buộc chống lại mình và có quyền được hưởng một phiên  
tòa công bằng (audi alteram partem); (2) Người ra phán quyết không được thiên vị  
(nemo judex in causa sua).22  
Trong khi một số hiến pháp (đặc biệt hiến pháp Hoa Kỳ) trực tiếp đề cập đến  
“due process”, các bộ luật quốc tế về quyền con người cũng như hiến pháp của nhiều  
quốc gia thể hiện tinh thần của “procedural due process” thông qua các quyền về xét  
xử công bằng (the right to a fair trial/fair trial rights). Trên các diễn đàn luật học, các  
ngôn từ liên quan đến quyền xét xử công bằng thường được dùng nhiều hơn thuật ngữ  
trình tự công bằng, mặc dù hai khái niệm này rất gần gũi. Điều này có thể được lý giải  
là do thủ tục công bằng gắn nhiều với học thuyết hàn lâm, còn quyền xét xử công bằng  
vừa hàn lâm vừa là thực tiễn, đòi hỏi các nhà nước tôn trọng các bộ luật quốc tế về  
quyền con người.  
Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người 1948 (UDHR),23 Công ước quốc tế về  
các quyền dân sự và chính trị 1966 (ICCPR),24 và nhiều điều ước quốc tế khu vực khác  
thường dành một số điều khoản quy định riêng về quyền xét xử công bằng. Những  
điều khoản này tập trung vào tố tụng hình sự. Đúng vậy, quyền con người trong tố  
tụng hình sự luôn luôn là nội dung cốt lõi của nguyên tắc xét xử công bằng. Nếu nhìn  
21 Richard Vogler, 'Due Process' in Michel Rosenfeld and András Sajó (eds), The Oxford Handbook of Comparative  
Constitutional Law (Oxford University Press, 2012) .  
22 Paul Craig, Administrative Law (Sweet & Maxwell, 7th ed, 2012) 339.  
23 Xem các điều 9, 10, 11.  
24 Xem các điều 9, 10, 11, 14 và 15.  
5
vào những lời văn của ICCPR, chúng ta có cảm tưởng rằng quyền xét xử công bằng  
đồng nghĩa với quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự. Tuy nhiên cách hiểu này chưa  
đầy đủ. Quyền xét xử công bằng còn áp dụng trong tố tụng dân sự và trong thủ tục  
hành chính. Có một nguyên lý là ở nơi nào mà nhà nước có thể tước đoạt tính mạng, tự  
do và tài sản (hay nói cách khác là tước đoạt một quyền nào đó) của cá nhân, nơi đó  
phải áp dụng trình tự công bằng. Hiến pháp Việt Nam là một minh chứng cho thiếu sót  
này.  
Hiến pháp Việt nam 2013, mặc dù không đề cập đến khái niệm quyền xét xử  
công bằng nói chung, đã ghi nhận một số thành tố của quyền này tại Điều 31 - áp dụng  
trong tố tụng hình sự, và Điều 103 - áp dụng cho cả tố tụng hình sự và tố tụng dân sự.  
Một điều đáng lưu ý là các thành tố của quyền xét xử công bằng không tập trung ở  
Chương II về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” tại Điều 31  
mà còn thể hiện ở Chương VIII về “Tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân” tại Điều  
103. Khoản 2 Điều 31 đề cập đến từ “công bằng” trong câu “[n]gười bị buộc tội phải  
được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai” (phần in  
nghiêng do tác giả nhấn mạnh) nhưng đây có lẽ không phải là cách tiếp cận về quyền  
xét xử công bằng với tư cách là một tập hợp các quyền thủ tục. Thử làm một so sánh,  
chúng ta thấy Điều 6 của Công ước Nhân quyền Châu Âu được đặt tên “quyền xét xử  
công bằng” với tư cách là một nguyên tắc chung được hợp thành bởi nhiều quyền cụ  
thể.  
Quyền xét xử công bằng trong tố tụng hình sự  
Liên quan đến tố tụng hình sự, Hiến pháp, theo truyền thống sử dụng cách diễn  
đạt các quyền của bị can, bị cáo,25 bao gồm: quyền giả định vô tội; quyền được xét xử  
kịp thời; quyền được xét xử bởi một tòa án độc lập, có sự tham gia của hội thẩm;  
quyền được xét xử một cách công bằng; quyền được xét xử công khai; quyền không bị  
kết án hai lần vì một tội phạm; quyền bào chữa; quyền được bồi thường thiệt hại và  
phục hồi danh dự; quyền được xét xử theo nguyên tắc tranh tụng; quyền được xét xử  
phúc thẩm.26 Có thể thấy rằng Hiến pháp 2013, giống như các Hiến pháp trước đó, vẫn  
còn thiếu một số quyền xét xử công bằng quan trọng so với ICCPR. Trong đó, một số  
quyền đã được bổ sung bằng một số đạo luật. Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 bổ sung  
các quyền rất quan trọng: quyền được xét xử bởi một tòa án vô tư;27 quyền bình  
đẳng;28 quyền được trợ giúp miễn phí về dịch thuật.29 Bộ luật Hình sự 1999 ghi nhận  
25 Khoản 7, Điều 103.  
26 Xem Điều 31, Điều 103.  
27 Xem các Điều 14, 42-47.  
28 Điều 5.  
6
quyền không phải chịu hình phạt mà không có luật quy định.30 Luật Trợ giúp pháp lý  
2006 bảo vệ quyền được bảo vệ quyền và lợi ích miễn phí. Tuy nhiên, cần khẳng định  
rằng đây là những quyền cơ bản cần được ghi nhận bởi Hiến pháp chứ không chỉ bằng  
đạo luật. Ngoài ra, Hiến pháp cũng như các đạo luật trên vẫn còn thiếu một số quyền  
thiết yếu như: quyền không bị buộc phải buộc tội chính mình; quyền được giải thích về  
cáo buộc và được thông báo về quyền của mình; quyền có đủ điều kiện để chuẩn bị  
cho việc bào chữa; quyền đối chất.31 Các quyền còn đang thiếu này cần được công  
nhận bởi các đạo luật (đặc biệt Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi) và bằng con đường  
giải thích hiến pháp sau này.  
Quyền xét xử công bằng trong tố tụng dân sự  
Liên quan đến tố tụng dân sự (theo nghĩa rộng, bao gồm cả tố tụng hành chính),  
Hiến pháp có những quy định khá “mỏng” và không rõ ràng. Các quyền xét xử công  
bằng trong tố tụng dân sự hoàn toàn không được quy định tại Chương II, vốn được  
hiểu là nơi tập trung quy định các quyền cơ bản. Thay vào đó, Điều 103 tại Chương  
VIII nêu ra một số quyền trong tố tụng dân sự: quyền được xét xử bởi một tòa án công  
khai, độc lập, có hội thẩm tham gia; quyền được xét xử theo nguyên tắc tranh tụng,  
quyền được xét xử phúc thẩm; quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp. Làm một so sánh, Điều  
14 ICCPR quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước tòa án và các cơ quan tài phán  
khác. Trong việc quyết định về một cáo buộc hình sự chống lại một người, hoặc về các  
quyền và nghĩa vụ trong một vụ tranh chấp, mọi người có quyền được tham gia phiên  
xét xử công bằng và công khai bởi một tòa án đủ năng lực, độc lập và vô tư do luật  
quy định” (phần in nghiêng do tác giả nhấn mạnh). Như vậy, ICCPR, cũng như một số  
điều ước quốc tế về nhân quyền khác, thể hiện quyền xét xử công bằng trong tố tụng  
dân sự theo cách rất cô đọng nên cần được giải thích thêm. Thực tiễn ở Châu Âu cho  
thấy Tòa án Nhân quyền Châu Âu, thông qua các vụ kiện, đã giải thích các quyền cụ  
thể trong tố tụng dân sự. Ở Việt Nam, Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật Tố tụng hành  
chính đảm nhiệm vai trò cụ thể hóa này. Nhưng dù sao, chúng ta vẫn phải công nhận  
Điều 14 ICCPR đã đưa ra những tiêu chí tối quan trọng một cách khái quát nhất để  
đánh giá sự công bằng của tố tụng dân sự, đó là: việc định đoạt quyền và nghĩa vụ của  
một người phải được thực hiện bởi cơ quan giải quyết tranh chấp có đủ năng lực, độc  
lập, vô tư và tuân theo các thủ tục công bằng.  
29 Điều 24.  
30 Điều 2.  
31 Xem Điều 14 ICCPR.  
7
Quyền xét xử công bằng trong thủ tục hành chính  
Lưu ý rằng phần này bàn về “thủ tục hành chính”, không phải “tố tụng hành  
chính”. Tố tụng hành chính thuộc về khái niệm tố tụng dân sự theo nghĩa rộng như  
trên. Thủ tục hành chính ở đây phản ánh mối quan hệ giữa người dân và cơ quan hành  
chính.  
Lời văn của Điều 14 ICCPR có vẻ như chỉ đề cập đến các hoạt động tố tụng tại  
tòa án mà không đề cập đến hoạt động hành chính do các cơ quan hành chính thực  
hiện. Thật vậy, Điều 14 nói trên không nhắc đến “administrative” (hành chính) mà chỉ  
có có thuật ngữ mang tính tố tụng hình sự/dân sự như “criminal”, “civil”, “court”,  
“tribunal” (hình sự, dân sự, tòa án, cơ quan tài phán). Điều 6 của Công ước Nhân  
quyền Châu Âu cũng quy định tương tự.  
Vậy có phải quyền xét xử công bằng không áp dụng đối với hoạt động hành  
chính? Câu trả lời là: có áp dụng. Tòa án Nhân quyền Châu Âu đã chấp nhận rằng việc  
quyết định về các quyền và nghĩa vụ trong trong hoạt động hành chính có thể ban đầu  
được thực hiện bởi cơ quan hành chính mà không phải là cơ quan tư pháp theo đòi hỏi  
của Điều 6 Công ước Nhân quyền Châu Âu; nhưng các quyết định hành chính đó phải  
có thể được xem xét lại bởi một cơ quan tư pháp có năng lực, độc lập và vô tư theo  
đúng yêu cầu của Điều 6.32  
Tại Hoa Kỳ, Đạo luật Thủ tục hành chính 1946 (Administrative Procedure Act - APA)  
đã quy định hàng loạt những yêu cầu về thủ tục trong hoạt động hành chính, bao gồm:  
Cân nhắc đến sự thuận tiện cho đương sự tham gia việc giải quyết vụ việc;  
Cung cấp cho đương sự đầy đủ thông tin liên quan đến bản chất vụ việc và  
các vấn đề pháp lý cần thiết; Đương sự được giải thích về các quyết định trong vụ  
việc; Các lập luận chính và kết luận phải được nêu rõ trong hồ sơ; Đương sự được  
cung cấp hồ sơ giải quyết vụ việc để có thể làm căn cứ khiếu kiện về sau;  
Tạo cơ hội cho đương sự cung cấp bằng chứng, ý kiến bảo vệ và phản đối,  
đối chất;  
Đảm bảo quyền có luật sư của đương sự;  
Xem xét vụ việc trong thời gian hợp lý;  
Xem xét đầy đủ chứng cứ trước khi đưa ra quyết định;  
Người ra quyết định phải là những thẩm phán hành chính vô tư và bán độc  
lập; Những nhân viên đã tham gia với tư cách là người điều tra hay người cáo buộc  
không được là người xem xét quyết định vụ việc;  
32 Xem vụ việc: Le Compte, Van Leuven and De Meyere v Belgium (1983) 5 EHRR 183.  
8
Đương sự có quyền khiếu nại nội bộ;  
Đương sự có quyền khiếu kiện ra cơ quan tài phán độc lập.33  
Như vậy, trước khi vụ việc được xem xét lại tại tòa án theo trình tự tư pháp  
(judicial review), quá trình giải quyết tại cơ quan hành chính đã đóng vai trò gần như  
một cơ quan tư pháp (court-like hearing). Đây chính là “sự ‘tư pháp hoá’ của các cơ  
quan hành chính Mỹ”.34  
So sánh với Việt Nam, chúng ta thấy Hiến pháp 2013 có khoảng trống lớn về  
các thủ tục công bằng trong hoạt động hành chính. Nền luật học Việt Nam hiếm khi  
quan tâm đến việc áp dụng các nguyên tắc xét xử công bằng đối với hoạt động hành  
chính tác động bất lợi đến quyền con người. Đánh giá nền hành chính Việt Nam, một  
số tác giả đã phân tích về thực trạng “thiếu hụt hay không đầy đủ của các quy phạm  
pháp luật thủ tục”, khiến cho “pháp luật thủ tục hành chính đã không bảo đảm một  
cách đầy đủ được các quyền của con người, công dân” thậm chí “làm phức tạp, gây  
khó khăn cho cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện các quyền của họ đã được pháp  
luật ghi nhận”.35 Việc thiếu nền tảng hiến định về trình tự công bằng hành chính là  
nguyên nhân chính cho tình trạng này. Tuy vậy, chúng ta vẫn có thể thấy được ở mức  
độ nào đó nguyên tắc thủ tục công bằng đã được thể hiện rải rác ở nhiều đạo luật.  
Chẳng hạn, Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định về trình tự xử phạt vi phạm hành  
chính; Luật Đất đai quy định về trình tự thu hồi đất… Chúng ta cần mong đợi một đạo  
luật về thủ tục hành chính sẽ sớm được ban hành, trong đó áp dụng những quyền xét  
xử công bằng nêu trên.  
3. Trình tự công bằng nội dung (substantive due process)  
Như đã nêu trên, due process không những đòi hỏi việc định đoạt quyền con  
người trong một hoàn cảnh cụ thể phải tuân theo thủ tục công bằng (procedural due  
process) mà còn yêu cầu một phương pháp công bằng để đánh giá các quy phạm pháp  
luật cho phép định đoạt quyền con (substantive due process). Như vậy, substantive due  
process chính là phương pháp để đánh giá tính công bằng của một đạo luật khi đạo luật  
đó giới hạn quyền con người. Hay nói cách khác, substantive due process là công cụ  
của tài phán hiến pháp để đánh giá tính hợp hiến của một quy phạm hạn chế quyền.  
Các tu chính án 5 và 14 của Hiến pháp Hoa Kỳ, khi đề cập đến “due process of law”  
đã mang hàm ý này. Các mệnh đề về due process trong các tu chính án trên, ngoài ý  
33 Kenneth F. Warren, Administrative Law in the Political System (Westview Press, 5th ed, 2011) 258.  
34 Nguyễn Đăng Dung, tlđd 17, tr. 57.  
35 Phạm Hồng Thái – Nguyễn Thị Thu Hương, Bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong pháp luật hành  
chính Việt Nam (Một số vấn đề có tính phương pháp luận, định hướng nghiên cứu). Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học  
28 (2012) 1‐7, tr. 5.  
9
nghĩa liên quan đến quyền thủ tục như đã phân tích ở phần 2, chính là mệnh đề giới  
hạn quyền con người theo kiểu Hoa Kỳ.  
Nếu chỉ dựa vào các mệnh đề due process, rất khó để trả lời cho câu hỏi thế nào  
là việc tước đoạt quyền con người một cách công bằng. Trên thực tế, trong suốt lịch sử  
ra đời hiến pháp, luật hiến pháp Hoa Kỳ đã từng bước xây dựng một học thuyết về due  
process thông qua sự giải thích của tòa án. Mặc dù phần lớn các quyền hiến định được  
diễn đạt một cách tuyệt đối, các tòa án, thông qua chức năng giải thích hiến pháp đã  
xác nhận các quyền này mang tính tương đối – tức có thể bị giới hạn.36 Các quyền  
tương đối được chia làm ba nhóm với ba phương pháp khác nhau để đánh giá tính hợp  
hiến trong việc hạn chế các quyền này.  
Ba mức độ bảo vệ này là: kiểm tra chặt chẽ (strict scrutiny), kiểm tra trung bình  
(intermediate scrutiny) và kiểm tra tối thiểu (minimal scrutiny).37 Thứ nhất, mức độ  
kiểm tra chặt chẽ, áp dụng cho các quyền cơ bản (fundamental rights),38 là bài kiểm tra  
rất khắc nghiệt. Thực tế cho thấy, rất ít đạo luật có thể vượt qua.39 Một sự giới hạn  
quyền muốn vượt qua sự kiểm tra này phải đáp ứng hai yêu cầu: (1) Về mục đích, sự  
giới hạn là “thiết yếu để đạt được một mục tiêu cấp bách của nhà nước”;40 (2) Về  
phương tiện, sự giới hạn phải phù hợp để đạt được mục tiêu. Thứ hai, mức độ kiểm tra  
trung bình41 xem xét: (1) Sự giới hạn phải “thực sự liên quan tới một mục tiêu quan  
trọng của nhà nước”;42 (2) Có sự liên quan chắc chắn giữa phương pháp giới hạn và  
mục tiêu cần đạt được.43 Thứ ba, mức độ kiểm tra tối thiểu,44 vốn tương đối dễ dàng,  
yêu cầu: (1) Sự giới hạn phải “có lý do chứng tỏ sự liên quan tới một mục tiêu chính  
đáng của nhà nước”; (2) Phương tiện áp dụng là biện pháp hợp lý để đạt được mục  
tiêu.45  
Khác với mệnh đề due process tương đối khái quát của Hoa Kỳ, các bộ luật  
quốc tế về nhân quyền quy định các mệnh đề giới hạn quyền một cách cụ thể hơn.  
Phương thức cơ bản nhất là ghi nhận một mệnh đề chung áp dụng cho việc giới hạn  
đối với mọi quyền tương đối. Một ví dụ tiêu biểu là UDHR, tại Khoản 2 Điều 29 đưa  
36 Stefan Sottiaux, Terrorism and the Limitation of Rights - The ECHR and the US Constitution (Hart Publishing 2008) 56.  
37 Xem phân tích chi tiết hơn về các bài kiểm tra này tại Bùi Tiến Đạt, Hiến pháp hóa nguyên tắc giới hạn quyền con người:  
Cần nhưng chưa đủ. Tạp chí NCLP, số 6/2015.  
38 Bao gồm: quyền không bị phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc và nguồn gốc xuất thân, quyền bí mật đời tư, quyền tự do  
ngôn luận, quyền biểu tình và hội họp, quyền tự do tôn giáo, quyền tự do đi lại và quyền bầu cử (Erwin Chemerinsky,  
Constitutional Law: Principles and Policies (4th edn, Wolters Kluwer Law & Business 2011) 554).  
39 Nt 554.  
40 Nt 554.  
41 Áp dụng cho quyền bình đẳng giới, quyền bình đẳng của trẻ em ngoài giá thú, quyền bình đẳng về giáo dục của trẻ em,  
quyền tự do ngôn luận thương mại và quyền tự do ngôn luận nơi công cộng (Nt 553).  
42 Nt 553.  
43 Aharon Barak, Proportionality: Constitutional Rights and Their Limitations (Doron Kalir trans, Cambridge University  
Press, 2012) 511.  
44 Áp dụng cho các quyền còn lại.  
45 Barak, tlđd 43 552.  
10  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 371 trang myanh 23941 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Hội thảo quốc tế - Các cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước trên thế giới và ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_hoi_thao_quoc_te_cac_co_che_phap_ly_kiem_soat_quyen.pdf