Giáo trình Thông tin vi ba vệ tinh - Chương 5: Trạm mặt đất và vệ tinh

70  
CHƯƠNG 5  
TRẠM MẶT ĐẤT VÀ VỆ TINH  
5.1 Cấu hình chung của trạm mặt đất  
5.1.1 Cấu hình và chức năng của trạm mặt đất  
Trạm mặt đất bao gồm các khối chính: Anten, bộ HPA, bộ LNA, các bộ biến  
đổi tần số phát thu, bộ điều chế và giải điều chế, thiết bị sóng mang đầu cuối và  
thiết bị điều khiển và giám sát.  
IF  
DEM  
MAE  
MOD  
LNA  
D/C  
Amp  
Oscil  
lator  
Tracking  
system  
Feeder  
System  
Oscil  
lator  
IF  
Amp  
HPA  
U/C  
Hình 5.1 Sơ đồ khối của trạm mặt đất.  
Trạm mặt đất gồm có 2 nhánh: Nhánh phát tín hiệu và nhánh thu tín hiệu.  
Ở nhánh phát: Tín hiệu từ thiết bị truyền dẫn trên mặt đất (chẳng hạn từ bộ  
ghép kênh..) được đưa đến bộ đa truy cập và qua bộ điều chế thành tín hiệu trung  
tần. Sau đó được biến đổi thành tín hiệu cao tần nhờ bộ đổi tần lên U/C và được  
đưa vào bộ khuếch đại công suất cao HPA để đủ công suất đưa ra anten bức xạ lên  
vệ tinh.  
Ở nhánh thu: anten trạm mặt đất thu tín hiệu từ vệ tinh, sau đó được máy thu  
khuếch đại tạp âm thấp, qua bộ đổi tần xuống D/C để biến thành trung tần rồi được  
giải điều chế và đưa đến thiết bị đa truy cập, qua thiết bị giải ghép kênh để đưa tín  
hiệu vào các kênh thông tin riêng lẽ.  
5.1.2 Các công nghệ quan trọng đối với trạm mặt đất  
+Công nghệ anten: Yêu cầu có hệ số tăng ích, hiệu suất và biểu đồ bức xạ cao, búp  
sóng phụ nhỏ, đặc tính phân cực tốt và đặc tính nhiễu thấp.  
+Công nghệ máy phát công suất cao: yêu cầu có hệ số khuếch đại công suất cao,  
băng tần máy phát đủ rộng và có khả năng chống nhiễu xuyên điều chế.  
+Công nghệ máy thu nhiễu thấp: yêu cầu đặc tính nhiễu thấp và hệ số khuếch đại  
lớn.  
+Công nghệ điều khiển tiếng dội: yêu cầu triệt và nén tiếng dội, có hiệu quả  
truyền dẫn cao và có khả năng điều khiển lỗi.  
71  
5.2 Công nghệ máy phát  
5.2.1 Máy phát công suất cao  
Trong thông tin vệ tinh, do đặt điểm cự li thông tin rất xa, tín hiệu bị hấp thụ  
lớn nên yêu cầu máy phát của trạm vệ tinh mặt đất phải có công suất cao hàng trăm  
đến hàng ngàn watt để đảm bảo cho công suất của tần số làm việc bù được tổn hao  
trên đường truyền và đạt được cường độ trường đủ lớn ở máy thu vệ tinh  
Máy phát công suất cao được quyết định bởi loại và số sóng mang, nói chung  
được thực hiện một trong hai dạng sau:  
* Các sóng mang được khuếch đại bằng một bộ HPA chung.  
Kênh 1  
IFA  
MOD  
U/C  
U/C  
C
O
M
B
I
Kênh 2  
HPA  
IFA  
MOD  
N
E
R
Kênh n  
IFA  
MOD  
U/C  
Hình 5.2 Các sóng mang được khuếch đại bằng một bộ HPA chung.  
Yêu cầu bộ khuếch đại công suất mức cao phải có băng thông đủ rộng để  
khuếch đại các sóng mang của tất cả các kênh. Đồng thời, công suất ra phải có độ  
dự trữ đủ lớn để có thể bù được tổn hao do méo điều chế phát sinh trong quá trình  
khuếch đại các kênh thông tin. Cấu hình này có kết cấu trạm đơn giản hơn vì chỉ  
dùng 1 HPA cho tất cả các sóng mang, hiệu quả sử dụng kênh càng tăng khi số kênh  
càng nhiều, thiết bị phối ghép (combiner) hoạt động ở chế độ dòng nhỏ nên hoạt  
động ổn định hơn. Tuy nhiên, cấu hình này bị tác động bởi hiện tượng méo xuyên  
điều chế vì máy phát khuếch đại đồng thời nhiều kênh. Ngoài ra, khi máy phát bị sự  
cố thì tất cả các kênh đều bị ảnh hưởng.  
*Mỗi sóng mang được khuếch đại bằng một bộ HPA riêng  
Kênh 1  
MOD  
HPA  
U/C  
IF  
C
O
M
B
I
Kênh 2  
Kênh n  
MOD  
MOD  
HPA  
HPA  
U/C  
U/C  
IF  
IF  
N
E
Hình 5.3 sónược ại bằnbộ Hg  
R
Trong cấu hình này các bộ khuếch đại HPA không yêu cầu có băng thông  
rộng bao trùm băng thông các kênh mà chỉ cần đủ rộng cho từng kênh, không bị  
hiện tượng méo xuyên điều chế, khi một máy phát của một kênh bị sự cố thì không  
ảnh hưởng đến hoạt động của các kênh khác. Tuy nhiên, vì sử dụng nhiều máy phát  
công suất nên cấu hình phức tạp hơn đặc biệt là khi số kênh càng lớn, thiết bị phối  
72  
ghép (combiner) hoạt động ở chế độ dòng lớn nên hoạt động ít ổn định so với  
sơ đồ trên.  
5.2.3 Phân loại các bộ khuếch đại công suất cao  
Tuỳ thuộc vào công suất ra của băng tần và máy phát mà sử dụng các loại  
như: đèn sóng chạy(TWT), Klystron(KLY) và transistor hiệu ứng trường  
So sánh các bộ khuếch đại công suất mức cao:  
Tham số  
Công suất ra  
Kích thước  
Băng tần  
Loại Klystron  
Lớn  
Lớn  
Vài chục MHz  
Lớn  
Loại TWT  
Lớn  
Trung bình  
Vài trăm MHz  
Trung bình  
Giống Klystron  
Loại FET  
Nhỏ  
Nhỏ  
Vài trăm MHz  
Nhỏ  
Trọng lượng  
Phương pháp làm  
lạnh  
Bằng không khí  
khi công suất đến  
vài Kw. Bằng nước  
khi công suất  
khoảng 10Kw.  
Trung bình  
Bằng không khí tự  
nhiên  
Điện áp cung cấp  
Cao  
Thấp  
- Đèn sóng chạy(TWT) có băng tần rộng có thể phủ tất cả các băng tần phân  
định cho truyền dẫn, điều đó có lợi cho việc sử dụng nhiều sóng mang hơn  
- Klystron (KLY) có độ rộng băng tương đối hẹp, tần số có thể điều chỉnh đến  
bất kỳ giá trị nào trong khoảng tần số phân định cho truyền dẫn với hệ số khuếch  
đại thích hợp, thường có thể chọn từ 5 đến 10 kênh trong bộ điều hưởng  
- Transistor hiệu ứng trường được sử dụng ở trạm có dung lượng thấp khi công  
suất ra nhỏ, để có công suất cao thì mắc song song các tranzistor với nhau  
5.2.4 Méo do xuyên điều chế  
Ở vùng bão hoà của bộ khuếch đại công suất cao điện áp ra không tỷ lệ với  
điện áp vào nên khi có nhiều sóng mang được khuếch đại đồng thời thì các tín hiệu  
tạp âm ở tần số khác được phát sinh. Do đó, ở một số bộ khuếch đại công suất cao,  
khi khuếch đại nhiều sóng mang đồng thời, điểm làm việc của bộ khuếch đại được  
chọn sao cho mức đầu ra thấp hơn mức bảo hoà khoảng 6dB đến 10dB để triệt tiêu  
các tín hiệu tạp âm, điểm đó gọi là điểm lùi.  
Đối với các trạm mặt đất ta dùng phương pháp điều khiển công suất ra, tức  
điều khiển đầu ra của trạm mặt đất sao cho có thể triệt được mọi nhiễu xuyên điều  
chế.  
+
Đặc tuyến trước bộ HPA Đặc tuyến phi tuyến HPA Đặc tuyến HPA sau khi bù  
Hình 5.4 Đặc tuyến của HPA sử dụng phương pháp bù  
73  
Có một biện pháp khác để triệt nhiễu xuyên điều chế, gọi là tuyến tính  
hoá. Trong trường hợp này người ta chèn vào tầng trước một mạch điện với đặc tính  
bổ sung (bù) đặc tuyến không đường thẳng của bộ khuếch đại để cải thiện tuyến  
tính toàn bộ.  
5.2.5 Cấu hình dự phòng cho bộ khuếch công suất cao  
Trong thông tin vệ tinh độ tin cậy cực kì quan trọng khi sử dung bộ khuếch đại  
công suất cao, việc truyền dẫn bị ngưng lại .Vì vậy phải sử dụng bộ dự phòng  
Cấu hình cơ bản nhất là cấu hình 1:1  
HPA1  
Bộ chuyển đổi  
Nâng tần  
Bộ chia  
Công suất  
Tải kết hợp  
HPA2  
Hình 5.5 Cấu hình dự phòng cho bộ khuếch đại công suất cao.  
Tín hiệu từ ngõ ra của bộ nâng tần được chia đều bởi bộ chia công suất đưa  
đến ngõ vào của HPA1, HPA2. Bộ chuyển đổi cho phép tín hiệu ngõ ra của HPA1  
được phát đi, trong khi đó tín hiệu ở ngõ ra của HPA2 đổ ra tải kết hợp. Khi HPA1  
bị hỏng, bộ chuyển đổi sẽ tự động chuyển đổi ngõ ra của HPA2 tới bộ tiếp sóng  
anten  
5.3 Công nghệ máy thu  
5.3.1 Bộ khuếch đại nhiễu thấp LNA  
Ở trạm vệ tinh mặt đất bộ khuếch đại tạp âm thấp (LNA) đóng vai trò quan  
trọng, vì tín hiệu nhận được tại đầu vào anten rất nhỏ do sóng bức xạ từ vệ tinh bị  
hấp thụ rất lớn trên đường truyền vì cự ly truyền dẫn quá dài. Bộ khuếch đại tạp âm  
thấp cũng cần phải có độ rộng băng tần phủ được khoảng tần số của băng tần vệ  
tinh. Quy định của Intelsat về tiêu chuẩn các trạm vệ tinh mặt đất được quyết định  
bởi hệ số phẩm chất của hệ thống (G/T).  
-160dBm  
60dB  
Bộ khuếch đại LNA đặt càng gần mág tốt, để tối thiểu hoá tạp âm đưa  
LNA  
vào hệ thống, mặc khác phải điều chỉnh bnten đúng vào tâm anten  
5.3.2 Hệ số tạp âm  
-40dBm  
-100dBm  
60dB  
Tạp âm sinh ra trong một máy thu thường được biểu thị bằng hệ số tạp âm F  
(hoặc NF: Noise Figure)  
74  
Si / Ni  
F
=
So / No  
Si: là mức tín hiệu vào  
So: là mức tín hiệu ra  
Ni: là mức tạp âm đầu vào  
No:là mức tạp âm đầu ra  
So/No  
Si/Ni  
Máy thu  
Trong thông tin vệ tinh khi làm việc với các tín hiệu yếu thì nhiệt tạp âm được  
thay thế cho hệ số tạp âm (F)  
5.3.3 Các loại khuếch đại nhiễu thấp  
Có 3 loại khuếch đại tạp âm thấp: khuếch đại thông số, khuếch đại dùng  
GaAsFET và HEMT.  
5.3.3.1 Khuếch đại thông số  
Khuếch đại thông số hoạt động như sau: Đặt tín hiệu kích thích lên diode biến  
dung làm các thông số mạch điện của nó thay đổi, tạo ra một điện trở âm và khuếch  
đại tín hiệu vào. Nghĩa là, sự biến đổi điện dung của điode biến dung do tín hiệu  
kích thích được dùng để khuếch đại, việc giảm điện trở nội của diode biến dung  
mắc nối tiếp với điện dung sẽ tạo ra các đặc tính tạp âm thấp.  
5.3.4.2 Khuếch đại GaAs-FET  
GaAs-FET là transistor hiệu ứng trường dùng loại bán dẫn hỗn hợp giữa Gali  
và Arsenic, hoạt động ở tần số cao với các đặc tính băng tần rộng, hệ số khuếch đại  
và độ tin cậy cao. Do đó chúng được chúng được sử dụng rộng rãi cho các bộ  
khuếch đại tạp âm thấp. Trong thông tin vệ tinh các đặc tính tạp âm thấp cần được  
cải thiện. Bộ khuếch đại GaAs-FET có một số ưu điểm so với khuếch đại thông số:  
+ Không có mạch tạo tín hiệu kích  
+ Băng tần rộng, độ tin cậy cao.  
+ Dễ điều chỉnh, phù hợp với sản xuất hành loạt  
+ Thuận lợi về bảo trì bảo dưỡng  
5.3.4.3 HEMT (High Electron Mobility Transistor)  
Transistor có độ linh hoạt điện tử cao.  
HEMT hoạt động dựa trên hiệu ứng điện tử hai chiều với độ linh động điện tử  
cao và phù hợp với khuếch đại tạp âm thấp, tín hiệu tần số cao.  
Cơ cấu này sử dụng tiếp giáp pha trộn giữa GaAs và AlGaAs. Giữa dải dẫn  
của AlGaAs có sự sai khác năng lượng, dải này kích thích loại n, còn GaAs không  
được kích thích, Vì vậy hình thành lớp giàu điện tử trong AlGaAs gần bề mặt tiếp  
giáp với GaAs. Nên khi đặt một điện trường song song với lớp giàu điện tử, các  
điện tử chuyển động với độ linh hoạt cao vì chúng không chịu bất kì một sự tán xạ  
nào do các “nguyên tử cho” vì chúng được phân không gian khỏi các “nguyên tử  
cho” của vật liệu sinh ra chúng.  
HEMT có đặc điểm nổi bật như đặc tính nhiễu thấp tốt hơn so với GaAs-FET  
Hiệu ứng này đặc biệt tốt khi cơ cấu này được làm lạnh. Ngoài ra, nó băng tần rộng,  
kích thước nhỏ, giá thành thấp, dễ bảo dưỡng và thuận lợi cho sản xuất hàng loạt  
nên nó bắt đầu được sử dụng rộng rãi.  
-Có hai phương pháp làm lạnh:  
75  
+Làm lạnh bằng khí Heli  
+Làm lạnh nhiệt độ xuống – 400C  
5.3.5 Cấu hình dự phòng cho bộ khuếch đại tạp âm thấp  
-Cấu hình phổ biến nhất vẫn là cấu hình 1:1 được thể hiện ở hình vẽ. Trong đó  
hai bộ khuếch đại tạp âm thấp được nối song song bởi hai bộ chuyển mạch dùng  
ống dẫn sóng. Khi LNA hoạt động mà gặp sự cố thì bộ chuyển mạch sẽ tự động  
chuyển đổi kích hoạt LNA dự phòng  
LNA1  
Từ bộ tiếp  
Sóng anten  
Tải kết hợp  
Đến bộ hạ tần  
LNA2  
5.4 Bộ chuyển đổi nâng tần và hạ tần  
5.4.1 Quá trình của bộ chuyển đổi nâng tần  
ω
u
Trộn  
0
Lọc BW  
e
Bộ chuyển đổi nâng tần nhận sóng mang trung tần IF từ bộ điều chế sóng  
mang và chuyển đổi tần số trung tần IF thành tần số RF tuyến lên trong phổ tần  
tuyến lên của vệ tinh bằng cách trộn tần số fo với tần số dao động nội fe .Bộ chuyển  
đổi có thể thực hiện theo một hoặc hai quá trình.  
ω
φ
Xét sóng mang IF có dạng cos( 0t + ) và sóng mang dao động nội có dạng:  
ω
ω
ω
cos( t), (  
>
0). Kết quả quá trình trộn như sau:  
e
e
ω
ω
ω
ω
ω
ω
φ
φ
φ
Cos( 0t + ) cos( e t) =1/2 [ cos((  
-
0)t - ) + cos((  
+
0 )t + ))]  
e
e
ω
ω
Dùng bộ lọc để lấy tín hiệu băng tần cao:  
Bây giờ xét hai quá trình:  
+
e
0.  
ω
ω
0.  
u
Lọc  
Lọc  
ω
ω
e2  
e1  
Quá trình chuyển đổi thứ nhất cho kết quả:  
ω
ω
ω
ω
ω
ω
φ
φ
φ
0 )t + ))]  
Cos( 0t + ) cos( e1 t) =1/2[(cos((  
-
0)t - ) + cos((  
+
e1  
e1  
ω
ω
φ
Bộ lọc thứ nhất lọc lấy băng tần trên: cos((  
Quá trình chuyển đổi thứ hai cho kết quả:  
+
0 )t + ))  
e1  
76  
ω
ω
ω
ω
ω
e1  
ω
φ
φ
)
Cos(  
+ cos((  
+
)t + ) cos(  
t) =1/2[(cos((  
-
-
0)t -  
0
e1  
e2  
e2  
ω
ω
ω
φ
+
+ 0 )t + ))]  
e1  
e2  
ω
ω
ω
ω
u
ω
φ
Bộ lọc thứ hai lọc lấy biên tần: cos((  
+
+
0 )t + )) và vì vậy:  
=
e1  
e2  
ω
ω
ω
ω
ω
ω
ω
ω
0
+
+
.Điều này có nghĩa là:  
,
e2 chọn sao cho  
+
=
-
e1  
e2  
0
e1  
e1  
e2  
u
ω
ω
Trong quá trình chuyển đổi đơn. Muốn chuyển đổi  
thành u .Chẳng hạn,  
0
truyền đến bộ phát đáp khác thì yêu cầu thay đổi tần số dao động nội và thay đổi  
trong bộ lọc. Điều này rất bất tiện trong các trạm mặt đất.  
5.4.2 Quá trình chuyển đổi hạ tần  
Bộ chuyển đổi hạ tần thu sóng mang RF đã được điều chế ở bộ khuếch đại tạp  
ω
âm thấp LNA và chuyển tần số vô tuyến  
tinh sang tần số trung tần IF  
của nó trong phổ tần tuyến xuống vệ  
d
Quá trình chuyển đổi đơn ít được sử dụng, ta xét qúa trình chuyển kép:  
ω
ω
0
Lọc  
Lọc  
d
ω
ω
e1  
e2  
Xét quá trình thứ nhất:  
ω
ω
ω
ω
ω
ω
φ
φ
φ
e2 )t + ))]  
Cos( dt + ) cos( e2 t) =1/2[(cos((  
-
e2)t + ) + cos((  
+
d
d
ω
ω
φ
Bộ lọc thứ nhất chọn lấy băng tần thấp : cos((  
-
e2)t + ) và quá trình  
d
ω
chuyển đổi thứ hai được thực hiện với sóng mang dao động nội e1 ta có:  
ω
ω
ω
ω
ω
ω
φ
φ
cos(  
+ cos((  
-
e2 t)t + ) cos( e1 t) =1/2[(cos((  
-
-
e2)t + )  
d
d
e1  
ω
ω
ω
φ
-
+ d )t - ))].  
e1  
e2  
Sóng mang trung tần IF ngõ ra hiển nhiên có băng tần thấp  
ω
ω
ω
ω
ω
ω
ω
e2  
φ
cos((
ω  
-
-
ω
e2)t + ) và vì thế:  
=
-
-
tần số  
chọn sao cho  
d
e1  
0
d
e1  
e2  
ω
ω
ω
thoã mãn:  
-
=
+
d
0
e1  
e2  
5.5 Hệ thống bám đuổi vệ tinh  
5.5.1 Sự cần thiết của hệ thống điều khiển anten bám vệ tinh  
Các vệ tinh địa tĩnh trong thực tế không như tên gọi là đứng yên. Khi vệ tinh ở  
trên quỹ đạo nó bị tác động bởi các thiên thể khác như quả đất, mặt trăng mặt trời  
và nhiều hành tinh khác thuộc hệ mặt trời, quả đất cũng không phải là tròn tuyệt  
đối. Bởi vậy các vệ tinh luôn bị lôi kéo theo các hướng khác nhau gây ra sự trôi dạt  
vệ tinh trên quỹ đạo của nó. Do đó, các trạm mặt đất cần có hệ thống điều khiển  
bám đuổi vệ tinh sao cho tín hiệu thu được luôn đạt được giá trị tốt nhất.  
5.5.2 Định hướng cho anten  
Ba thông số quan trọng để xác định đúng toạ độ vệ tinh và hướng phân cực của  
nó là góc ngẩng, góc phương vị và góc phân cực. Thiết bị liên quan đến ba thông số  
này là anten parabol, phểu thu sóng.  
5.5.2.1. Góc ngẩng (Elevation θe)  
Góc ngẩng là góc tạo bởi đường thẳng nối vệ tinh với điểm thu và tiếp tuyến  
với mặt đất tại điểm thu đó. Góc ngẩng tại xích đạo là góc lớn nhất và bằng 900,  
càng lùi về hai cực góc ngẩng càng nhỏ.  
θe  
θe  
77  
Trong lắp đặt anten người ta dùng góc bù để dễ đo đạt. Góc bù là góc tạo bởi  
bề mặt chảo khi có đường thẳng đi qua với mặt đất. Nó được gọi là góc nghiêng i:  
góc nghiêng i = 900 - θe  
5.5.2.2 Góc phương vị (Azimuth ϕa)  
Góc phương vị là góc dẫn đường cho anten quay tìm vệ tinh trên quỹ đạo địa  
tĩnh theo hướng từ Đông sang Tây.  
Góc phương vị được xác định bởi đường thẳng hướng về phương Bắc với  
đường nối đến vệ tinh. Góc được xác định theo chiều kim đồng hồ.  
Góc phương vị được tính theo công thức:  
ϕa =1800+ kinh độ tây hoặc  
ϕa =1800 - kinh độ đông  
Góc phương vị ϕa được tính theo công thức:  
tg  
∆
Le  
tgϕ  
=
a
(
−
sin  
φ )  
φ
Với là vĩ độ của trạm mặt đất (độ).  
∆
L
∆ L  
e là hiệu kinh độ đông của vệ tinh với trạm mặt đất, e = Ls - Le .  
Rõ ràng là ϕa phụ thuộc vào kinh độ, vừa kinh độ tại điểm thu và kinh độ vệ  
tinh.  
Ví dụ hai vệ tinh có toạ độ như hình vẽ:  
Cực Bắc  
Góc phương vị của vệ tinh 1  
Góc phương vị của vệ tinh 2  
300 E  
450W  
Vệ tinh 2 (45oW)  
Vệ tinh1(300 E)  
Góc phương vị của 2 vệ tinh được tính theo biểu thức đã trình bày ở trên:  
Vệ tinh 1: ϕa1 =1800- kinh độ đông = 180o-30o =150o  
Vệ tinh 2: ϕa2 =1800+ kinh độ tây = 180o + 45o =225o  
78  
B¶ng 2.5 Gãc ngÈng vµ gãc ph¬ng vÞ ë Hµ Néi vµ TP. Hå ChÝ Minh  
Sai lệch Kinh tuyến  
Gócc ngẩng θee  
HNHN TPHCM HNHN TPHCM  
Góc phương vị ϕaa  
Tọa độ  
HNHN  
TPHCMC  
Tên vệ tinh  
M
CM  
-9038  
-6038  
-3038  
-1038  
CM  
Asiasatat1  
1160EE -10060  
1130EE -7016  
1100EE -4016  
630  
640  
64090  
65020  
620  
73029  
1530  
1640  
168050  
1740  
2060  
2170  
1400  
1520  
Palapapa BB  
Chinasatat 2  
Palapapa BB1 1080EE -2016  
75033  
75056  
77023  
71040  
66082  
160028  
172090  
227086  
2380  
Statsionarar 14 950EE  
+10084 +11062  
+15084 +16062  
Statsionarar6  
(Horizontnt 8)  
Chinasatat 1  
Statsionarar 13 800EE  
Thaicomom 1 780EE  
Intelsatat VIVI 630EE  
Intelsatat VV 600EE  
900EE  
59040  
870EE  
+18034 +19012  
+25084 +26062  
+27034 +28012  
+42084 +43062  
+45084 +46062  
+48084 +49062  
57070  
510  
490  
370  
340  
64035  
56061  
560  
38048  
360  
222070  
2320  
234062  
2480  
2510  
252050  
241074  
2480  
249060  
258092  
2600  
FF7  
570EE  
310  
320  
2610  
Intelsatat  
VAVA  
5.5.2.3 Góc phân cực (Angle Of Polarization)  
Khi đường trục của chảo Parabol hướng thẳng đến tâm búp sóng chính của  
anten phát của vệ tinh thì mặt chảo gần như thu toàn bộ năng lượng của chùm sóng  
chính trong mặt phẳng phân cực. Nếu anten nằm lệch tâm với chùm sóng chính của  
tín hiệu vệ tinh, hiệu suất thu năng lượng giảm và còn gây tác hại như làm méo  
dạng tín hiệu, tăng tạp nhiễu. Vì vậy cần phải hiệu chỉnh lại góc phân cực bằng đầu  
dò phân cực ở đầu thu.  
5.5.3 Hệ thống bám đuổi vệ tinh  
5.5.3.2 Bám đuổi vệ tinh bằng xung đơn  
Hệ thống này luôn xác định tâm búp sóng anten có hướng vào vệ tinh hay  
không để điều khiển hướng của anten.  
Khi tín hiệu đến trực tiếp ở phía trước bộ dẫn sóng thì hệ thống làm việc ở loại  
sóng TE10. Nếu tín hiệu đến lệch khỏi tâm thì hệ thống làm việc ở loại sóng TE20.  
Qua việc phát hiện các loại sóng công tác có thể giải quyết vấn đề điều chỉnh anten.  
Pha của của tín hiệu tạo ra chỉ thị sự sai lệch trái hay phải.  
Trục bức xạ cực đại  
TE10  
TE20  
TE20  
79  
Ưu điểm của phương pháp bám đuổi vệ tinh bằng xung đơn là độ chính xác  
cao, nhược điểm là thiết bị đánh dấu phải làm việc liên tục sẽ chóng hao mòn và  
dẫn tới mau hỏng do phải liên tục cung cấp năng lượng.  
5.5.3.3 Bám đuổi vệ tinh theo từng nấc  
Hệ thống này điều chỉnh hướng sao cho mức tín hiệu thu là cực đại bằng cách  
dịch chuyển nhẹ vị trí anten ở các khoảng thời gian nhất định.  
*Sơ đồ khối của hệ thống bám từng nấc  
Beam  
Receiver  
Beam D/C  
LNA  
Bộ chia  
D/C  
Bộ thu  
Chuyển mạch  
hạn chế  
Điều khiển  
anten (ACU)  
Mô tơ Az  
+ Chức năng các khối:  
Mô tơ Ei  
LNA: Bộ khuếcp thường là một phần của các mạch tín hiệu xử  
lí thông tin.Nó có thể dùng cho hệ thống điều khiển bám đuổi vệ tinh.  
Bộ chia: Lấy một phần tín hiệu đưa vào D/C  
Bộ D/C: Chuyển tần số bức xạ RF thành tần số IF phù hợp để hệ thống sử  
dụng.  
Khối điều khiển anten ACU: làm nhiệm vụ tối ưu hoá mức tín hiệu ban đầu  
thông qua quá trình điều khiển bám từng nấc, tạo ra các tín hiệu điều khiển lái cho  
động cơ điều khiển góc phương vị và góc ngẩng.  
Khối điều khiển môtơ: Nhận lệnh của ACU sẽ cung cấp công suất hiệu chỉnh  
đến các môtơ định vị anten  
Khối chuyển mạch hạn chế: Ngắt nguồn cung cấp cho các môtơ khi anten  
chuyển đến các biên giới hạn để đề phòng nguy hiểm cho máy móc.  
*Nguyên lý hoạt động:  
Sau khi thu tín hiệu dẫn đường từ vệ tinh anten được lệnh dịch chuyển góc ban  
đầu so sánh với mức tín hiệu dẫn đường thu được trước và sau khi dịch chuyển,  
hướng của lần dịch chuyển kế tiếp có thể được quyết định đó là: Nếu mức tín hiệu  
80  
dẫn đường tăng lên thì anten tiếp tục dịch chuyển theo hướng trước đó, còn  
nếu mức tín hiệu dẫn đường giảm đi thì anten dịch chuyển theo hướng ngược lại và  
quá trình này sẽ được lặp lại. ưu điểm của phương pháp này là các anten không  
phải bám liên tục như hệ thống xung đơn.  
5.5.3.4 Bám đuổi vệ tinh theo chương trình  
Hệ thống này dựa trên số liệu lịch thiên học dự đoán các vị trí vệ tinh được  
Intelsat cung cấp. Số liệu này được dưa vào phần mềm máy tính biến đổi dữ liệu  
thành các giá trị thực cho trạm vệ tinh mặt đất đó để điều khiển bám vệ tinh đã cho  
trước các số liệu thiên văn. Loại điều khiển bám theo chương trình không cần hệ  
thống điều khiển bám và các thiết bị liên quan, giảm được giá thành trạm mặt đất,  
được quan tâm hàng đầu nhất là các trạm mặt đất nhỏ.  
5.5.3.5 Bám đuổi vệ tinh bằng nhân công  
-Các anten của các trạm mặt đất nhỏ hơn có thể chỉ cần điều chỉnh hàng tuần,  
hàng tháng vì búp sóng của anten rộng, điều chỉnh này có thể được thực hiện bằng  
cách làm cho các chuyển mạch phù hợp với môtơ góc ngẩng và góc phương vị.  
-Các hệ thống bám đuổi tự động thường có khả năng điều khiển bằng tay để cho  
phép bảo dưỡng anten, điều khiển bằng nhân công cũng là phương pháp thêm vào  
khi hỏng thiết bị. Có phương pháp điều khiển bám nhân công khác là biện pháp cơ  
khí trực tiếp để quay anten  
-Các anten nhỏ hơn có thể chỉ nới lỏng một cái chốt, sau đó điều chỉnh một số vít  
thay đổi góc phương vị và góc tù.  
-Các anten lớn hơn có thể yêu cầu một tay vặn được gắn trực tiếp ở bộ phận đuôi  
của anten. Đối với anten lớn đây là trường hợp khẩn cấp khi có sự cố nguồn tổng  
cung cấp cho các khối điều khiển.  
5.6 Vệ tinh Việt namVINASAT  
5.6.1 Tổng quan  
Nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển, nhu cầu trao đổi, cập nhật  
thông tin và giải trí ngày càng tăng. Hiện nay, ở nước ta có tất cả 6 trạm mặt đất  
thông tin vệ tinh đang hoạt động đều thuê kênh vệ tinh của nước ngoài. Cùng với  
nhu cầu ngày càng tăng thì yêu cầu đặt ra là Việt Nam cần có một vệ tinh thông tin  
riêng của mình để phục vụ các nhu cầu thông tin trong nước và nhu cầu của các cơ  
quan, tổ chức nước ngoài. Ngày 24/9/1998, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định  
868/QĐ-TTg về việc thông qua báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án “Phóng vệ  
tinh viễn thông Việt Nam (VINASAT)”. Theo dự kiến, vệ tinh VINASAT sẽ được  
phóng lên quỹ đạo ở vị trí 132°Đông vào đầu năm 2005 và muộn nhất là giữa năm  
2005 sẽ đi vào hoạt động. Cũng theo dự kiến, VINASAT có khoảng từ 20 đến 30 bộ  
phát đáp (mỗi bộ tương đương với 480 kênh thoại hoặc tương đương với một  
chương trình truyền hình). Sau khi đi vào hoạt động, vệ tinh VINASAT sẽ tiết kiệm  
được cho đất nước 10 triệu USD mỗi năm tiền thuê kênh vệ tinh của nước ngoài  
như ASIASAT, THAICOM, MEASAT...thời gian qua.  
5.6.2 Vị trí quỹ đạo và phối hợp tần số  
Nước ta nằm trong khoảng kinh tuyến từ 103°Đông đến khoảng 110°Đông. Từ  
đây ta thấy vị trí lý tưởng trên quỹ đạo địa tĩnh là nằm trong khoảng này. Khi đó, ở  
bất kỳ một điểm nào trên lãnh thổ Việt Nam ta đều có thể nhìn thấy vệ tinh gần như  
81  
ở trên đỉnh đầu và khi đó đường truyền sóng sẽ là ngắn nhất, do đó suy hao là ít  
nhất. Tuy nhiên, quỹ đạo địa tĩnh ở đây quá chật chội ví dụ như ở vị trí kinh tuyến  
103°Đông đã có 13 vệ tinh đang làm thủ tục đăng ký hoặc đã được đăng ký. Ở kinh  
tuyến 110°Đông cũng có 11 vệ tinh đã hoặc đang được đăng ký. Nói chung, hầu  
như vị trí nào cũng đầy chật vệ tinh. Tuy nhiên, ta có thể chọn những vị trí ở xa hơn  
về phía Đông hoặc phía Tây, chẳng hạn trong vùng kinh tuyến 65°Đông hoặc 145°  
Đông, khi đó tuyến truyền sóng có dài hơn nhưng cũng không ảnh hưởng lớn đến  
chất lượng thông tin. Vì vậy, việc chọn vị trí quỹ đạo thích hợp là rất quan trọng để  
tránh can nhiễu do các vệ tinh bên cạnh và tránh làm nhiễu họ. Năm 2000, Việt  
Nam đã đăng ký với ITU 7 vị trí quỹ đạo và quỹ đạo nằm ở vị trí 132°Đông đã  
được chấp nhận.  
Vị trí quỹ đạo và băng tần liên quan là tài nguyên thiên nhiên dùng chung  
nhưng rất có hạn, các nước trên thế giới đã chiếm rất nhiều vị trí, còn Việt Nam là  
nước đến sau, giờ mới đăng ký nên khó có thể tìm một vị trí thích hợp. Vị trí tìm  
được phải bảo đảm không gây nhiễu cho các vệ tinh bên cạnh, theo quy định quốc  
tế, phải thoả thuận với các nước có vệ tinh bên cạnh. Việc thoả thuận này gọi là  
phối hợp tần số, nếu vệ tinh của ta có ảnh hưởng đến hệ thống các nước thì phải  
thay đổi các tham số của vệ tinh VINASAT.  
Với vệ tinh VINASAT thì ta phải thực hiện phối hợp tần số với khoảng 15  
nước trên thế giới, đây là một công việc nặng nề đòi hỏi phải có những nỗ lực to lớn  
do tính phức tạp của quá trình. Số liệu thu được mỗi lần đi phối hợp tần số với các  
nước đối tác là rất nhiều, do vậy cần có các kỹ năng xử lý tốt, chuyên môn sâu rộng  
để vừa đảm bảo quyền lợi quốc gia, vừa tránh được các bất lợi cho hệ thống vệ tinh  
của Việt Nam sau này và cũng phải được các đối tác chấp nhận. Vấn đề cơ bản của  
phối hợp tần số là tránh được can nhiễu giữa các hệ thống vệ tinh khi hoạt động,  
nếu không phối hợp tốt sẽ ảnh hưởng lớn đến kế hoạch kinh doanh.  
5.6.3 Kích cỡ vệ tinh và tần số công tác  
5.6.3.1 Kích cỡ vệ tinh  
Kích cỡ vệ tinh hay dung lượng vệ tinh phụ thuộc trực tiếp vào nhu cầu sử  
dụng của quả vệ tinh đó. Phân loại vệ tinh theo khối lượng được chỉ ra ở bảng 5.1.  
Bảng 5.1 Phân loại vệ tinh theo khối lượng  
Khối lượng  
> 9080 kg  
Tên vệ tinh thông  
dụng  
Hube (kính viễn  
vọng)  
Tỉ lệ phóng trong  
1994 - 1998  
1%  
Vệ tinh nặng -  
Heavy  
Vệ tinh lớn  
4541 - 9080kg  
2271 - 4540kg  
909 - 2270kg  
91 - 908kg  
HS393, VOSTOK  
8%  
Large  
Vệ tinh trên trung  
bình Intermediate  
Vệ tinh trung  
bình - Medium  
Vệ tinh nhỏ  
Small  
HS601, LM7000,  
A2100, FS1300  
HS376, LM4000,  
SpaceBus2000  
HS 333, LM700  
SpaceBus L  
22%  
21%  
37%  
11%  
Vệ tinh siêu nhỏ  
0 - 90kg  
McroStar, SSTL  
82  
Microsat  
Dựa trên quan hệ giữa số bộ phát đáp và khối lượng vệ tinh thì VINASAT  
thuộc loại vệ tinh trung bình. Qua xem xét kinh nghiệm của các nước trong khu vực  
thì việc phóng vệ tinh VINASAT đầu tiên có dung lượng như vậy là phù hợp vì  
trước mắt đối tượng của VINASAT sẽ là thị trường trong nước.  
5.6.3.2 Tần số công tác  
Có ý kiến cho rằng nếu quỹ đạo địa tĩnh quá chật chội thì có thể dùng dải tần  
làm việc khác đi. Điều này đúng nhưng không phải lúc nào cũng thực hiện được và  
có những hạn chế nhất định. Cũng như các vệ tinh thông tin khác, băng tần hoạt  
động của VINASAT là băng C, Ku và băng X phục vụ cho các ứng dụng của chính  
phủ. Các băng tần này đã được đăng ký với ITU và được đề cập tới khi thực hiện  
phối hợp tần số với các hệ thống vệ tinh khác.  
Ở điểm 103°Đông, phần lớn các vệ tinh đều dùng các dải tần thuộc băng  
C(6/4GHz) và băng Ku(14/11GHz). Như vậy, khó mà tránh được trùng nhau trong  
dải tần. Chỉ còn một cách là bố trí tần số của bộ phát đáp so le với tần số của các bộ  
phát đáp của các vệ tinh bên cạnh. Nếu tần số sóng mang của hai bộ phát đáp dùng  
cho truyền hình (can nhiễu khác nhau của hai vệ tinh khác nhau) mà khác nhau  
10MHz thì tỉ số bảo vệ (protection ratio) là 31dB. Điều này có nghĩa là mật độ  
thông lượng công suất cho phép ở bên vùng làm việc phải giảm đi 31dB. Nhưng  
nếu số liệu số giữa các sóng mang nói trên là 30MHz thì tỉ số bảo vệ là 0dB, nghĩa  
là công suất phát xạ có thể lớn lên được 31dB.  
Cũng có thể giảm can nhiễu giữa các vệ tinh với nhau bằng cách sử dụng  
những cách phân cực khác nhau. Khi hai tuyến thông tin (cùng lên hoặc cùng  
xuống) có cách phân cực khác nhau thì độ can nhiễu có thể giảm đi bằng hệ số cách  
ly phân cực. Chẳng hạn khi một tuyến có phân cực tròn trái LHC còn tuyến kia có  
phân cực tròn phải RHC thì hệ số cách ly là 6dB. Còn nếu một bên là phân cực tròn  
(trái hoặc phải) mà bên kia là phân cực đường thẳng thì hệ số này chỉ là 1,4dB. Dĩ  
nhiên là khi phân cực giống nhau thì hệ số cách ly bằng 0dB. Vì lý do này mà cũng  
cần phải biết được sự bố trí phân cực của các bộ phát đáp của các vệ tinh bên cạnh.  
5.6.4 Kỹ thuật sử dụng  
Có thể giảm nhiễu bằng cách dùng những kỹ thuật truy cập hiện đại như  
CDMA. Phương pháp này dùng một chuỗi giả ngẫu nhiên để điều chế sóng mang,  
nó trải tín hiệu trên một phổ tần số rộng. Với những ưu điểm đã được trình bày kỹ  
trong chương 4, phương pháp đa truy cập này rất thích hợp cho VINASAT.  
5.6.5 Các loại hình dịch vụ  
Động lực kích thích sự phát triển của thông tin vệ tinh hiện nay là các ứng  
dụng đối với Internet và việc phân phối các chương trình truyền hình giải trí. Tuy  
nhiên, các dịch vụ của thông tin vệ tinh không dừng lại ở các ứng dụng này mà nó  
còn có nhiều loại hình dịch vụ khác.  
Bảng 5.2 thống kê các loại hình dịch vụ dự định sẽ sử dụng trong vệ tinh VINASAT  
Cơ cấu sử dụng  
theo dung lượng  
Ghi chú  
83  
vệ tinh  
» 35%  
Thông tin điện thoại  
Mạng số liệu  
Mạng VSAT, trung kế vệ tinh(2M-  
140Mbit/s)  
Các khách hàng có nhu cầu truyền số  
liệu lớn  
» 10%  
» 25%  
» 15%  
» 5%  
Phát thanh, truyền hình  
quảng bá  
Truyền hình trực tiếp đến  
nhà khách hàng DTH  
Thông tin Chính phủ  
Đài THVN, đài TNVN  
Đài THVN, TCT BCVT VN  
CP16  
Đơn vị có mức độ sử dụng lớn nhất dung lượng vệ tinh là ngành phát thanh  
truyền hình, tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam sẽ chủ yếu sử dụng vệ  
tinh này để tiếp tục xây dựng, nâng cấp hệ thống VSAT băng C hiện có để phát  
triển viễn thông nông thôn và tại các vùng biển đảo, xây dựng mạng VISAT băng  
Ku có kích thước anten nhỏ (70cm đến 90cm) để truyền số liệu sử dụng công nghệ  
TDM/TDMA phục vụ cho các khách hàng truyền số liệu như các mạng ngân hàng.  
Ví dụ như các điểm tiết kiệm bưu điện hàng ngày phải thực hiện các giao  
dịch trên toàn quốc với số lượng tiền gởi rất lớn, đồng thời khách hàng cũng có nhu  
cầu rút tiền ra với các thời gian và địa điểm khác nhau, nếu không có một hệ thống  
thích hợp để cập nhật các biến động này một cách tự động và chuyển lượng tiền đó  
sang ngân hành kịp thời tránh phát sinh lãi suất không mong muốn. Nếu có hệ thống  
VSAT TDM/TDMA nối với một HUB tại trung tâm Hà Nội chẳng hạn và trung tâm  
này có đường nối sang các ngân hàng thì việc cập nhật trở thành đơn giản. Về mặt  
rút tiền gởi, hệ thống rút tiền tự động ATM sử dụng công nghệ nói trên sẽ cho phép  
các khách hàng tự động rút tiền thông qua thẻ tiết kiệm được phát hành tại các điểm  
giao dịch, đây là một ứng dụng khá hấp dẫn cho thông tin vệ tinh tại các nước đang  
phát triển.  
Ngoài ra, còn có các ứng dụng khác như Internet, Direct-to-PC, Direct-to-  
Home, hội nghị truyền hình, đào tạo từ xa, các dịch vụ lưu động, chuyển tiếp  
chương trình phát thanh và truyền hình... Hiện nay, kế hoạch dung lượng của  
VINASAT là hai bộ phát đáp băng C và hai bộ phát đáp băng Ku và khoảng 1 đến 2  
bộ dự phòng chiếm 3% dung lượng quả vệ tinh.  
pdf 14 trang myanh 42421 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giáo trình Thông tin vi ba vệ tinh - Chương 5: Trạm mặt đất và vệ tinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_thong_tin_vi_ba_ve_tinh_chuong_5_tram_mat_dat_va.pdf