Bộ bài tập môn Luật thương mại 2 (Dùng cho các lớp từ kỳ 2 năm học 2020-2021) - Đại học Luật Hà Nội
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
KHOA PHÁP LUẬT KINH TẾ
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
BỘ BÀI TẬP
MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI 2
(Dùng cho các lớp học từ kỳ 2 năm học 2020-2021)
Một số lưu ý:
1. Đối với BT nhóm, 3 nhóm trong một lớp thảo luận không được
phép chọn trùng bài tập
2. Ghi rõ nguồn trích dẫn đối với từng đoạn viết có trích dẫn
HÀ NỘI - 2020
1
BÀI TẬP NHÓM
LTM2 – N 1 (Tác giả: Ths. Nguyễn Ngọc Anh)
Công ty cổ phần Cao Nguyên (chuyên sản xuất các sản phẩm cà phê) ký hợp đồng
số 01 với Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồng Bằng với nội dung: Công ty Đồng Bằng
thay mặt Công ty Cao Nguyên để thực hiện hoạt động kinh doanh tại các tỉnh, thành phố
thuộc khu vực miền Bắc
Ngày 1/3/2019, Công ty Cao Nguyên vận chuyển 200 thùng hàng (cà phê cùng
một loại) từ Buôn Ma Thuột tới trụ sở chính của Công ty Đồng Bằng ở Hà Nội. Nắm
được thông tin, Doanh nghiệp tư nhân OHO (trụ sở chính tại quận Đống Đa) đã gửi đề
nghị giao kết hợp đồng mua 100 thùng cà phê xay sẵn tới Công ty Đồng Bằng. Ngày
2/3/2019, hợp đồng mua bán 100 thùng cà phê (hợp đồng số 02) được ký kết. Dự kiến
sáng này 3/3/2019, hàng có mặt tại trụ sở chính của Công ty Đồng Bằng. Tuy nhiên đang
ở địa phận Thanh Hóa, vì gặp phải bão to, lô hàng bị hư hại 150 thùng cà phê.
Câu hỏi:
1. Với các kiến thức đã được học, hãy xác định các quan hệ pháp luật thương mại
cụ thể được nêu trong tình huống trên.
2. Giả sử, đại diện theo pháp luật duy nhất của Công ty Đồng Bằng là bà Đồng Thị
Lúa. Bà Lúa cũng chính là chủ Doanh nghiệp tư nhân OHO. Hãy nhận xét về hiệu lực
của hợp đồng mua bán số 02.
3. Chủ thể nào phải chịu tổn thất hư hại 150 thùng cà phê?
4. Giả sử, trong hợp đồng số 02 các bên thỏa thuận về địa điểm giao hàng là trụ sở
chính của Doanh nghiệp tư nhân OHO. Thỏa thuận này có ảnh hưởng đến việc xác định
chủ thể chịu tổn thất về việc hư hại 150 thùng cà phê không?
LTM2 – N 2 (Tác giả: Ths. Nguyễn Ngọc Anh)
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X (công ty 100% vốn nước ngoài)
chuyên kinh doanh các sản phẩm mứt làm từ rau, củ, quả. Công ty X có trụ sở chính tại
Đà Lạt. Để chuẩn bị cho mùa tết âm lịch năm 2020, Công ty X sáng tạo và phát triển
dòng sản phẩm mứt mới. Với chiến lược chuẩn bị cho việc phát triển thị trường, từ tháng
9/2019, Công ty X đã thực hiện một số hoạt động sau đây:
2
- Công ty X quảng cáo trên các phương tiện như truyền hình, phát thanh, mạng
internet.
- Công ty X thông báo về chương trình khuyến mại nhân dịp Tết Nguyên Đán:
mua các bộ sản phẩm mứt của công ty sẽ được tặng kèm một gói trà hoa quả. Đồng thời,
các khách hàng mua sản phẩm có hóa đơn từ 300.000 đồng trở lên của công ty đều có cơ
hội được tham gia “Vòng quay may mắn”. Khách hàng sẽ dùng điện thoại quét QR code
có trên từng phiếu dự thi, nhập mã số của phiếu dự thi và tham gia quay trúng thưởng
trên ứng dụng tải về máy điện thoại.
- Đồng thời, Công ty X ký kết hợp đồng với Doanh nghiệp tư nhân Y (chuyên sản
xuất bánh mứt kẹo cổ truyền, có cửa hàng nổi tiếng nằm trên phố Hoàng Hoa Thám, Hà
Nội) để các sản phẩm mứt của Công ty X được bày bán tại cửa hàng của Doanh nghiệp tư
nhân Y trong dịp giáp Tết Nguyên đán.
1. Xác định các hoạt động thương mại mà Công ty X tiến hành?
2. Công ty X có được tự thực hiện quảng cáo sản phẩm của mình không?
3. Nêu thủ tục Công ty X cần thực hiện theo quy định pháp luật để tiến hành hoạt
động quảng cáo và khuyến mại sản phẩm của công ty?
4. Giả sử xảy ra sự kiện bất khả kháng làm hàng hóa của Công ty X đặt tại cửa
hàng của Doanh nghiệp tư nhân Y bị hư hỏng. Ai là người phải gánh chịu tổn thất do
hàng hóa bị hư hỏng?
LTM2 – N 3 (Tác giả: Ths. Nguyễn Ngọc Anh)
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thu Hoa (kinh doanh sản phẩm trái
cây) có trụ sở tại phố Nguyễn Công Hoan, Hà Nội. Người quản lý của công ty đã lập một
trang bán hàng trên facebook nhằm tăng hiệu quả của việc kinh doanh. Trên trang mạng
xã hội facebook của công ty xuất hiện thông báo như sau: “Công ty sẽ dành 3 hộp cherry
loại 2kg mới được nhập về để trao thưởng cho khách hàng. Các khách hàng sẽ phải chia
sẻ đường link theo chỉ dẫn, tag tên một vài người bạn trong danh sách bạn bè của mình,
comment hai chữ số. Người dành được giải thưởng là người đã thực hiện đầy đủ các thao
tác theo yêu cầu và có hai chữ số mà họ comment trùng với hai chữ số cuối của giải đặc
biệt sổ xố kiến thiết”.
1. Xác định loại hình khuyến mại mà Công ty Thu Hoa đã thực hiện?
3
2. Nhận xét về tính hợp pháp của chương trình khuyến mại nói trên.
3. Tư vấn về nội dung và thủ tục để Công ty Thu Hoa có thể thực hiện được
chương trình khuyến mại theo đúng quy định pháp luật.
4. Đối với các đơn đặt hàng trên mạng, khu vực ở quận nội thành Hà Nội, Công ty
Thu Hoa cho nhân viên của mình mang hàng tới địa chỉ khách yêu cầu. Trong một đơn
hàng giao 20 giỏ hoa quả cho khách ở Xuân La, Tây Hồ, nhân viên không thể liên lạc
được với khách hàng và địa chỉ khách hàng cho là không chính xác. Công ty đã thông
báo trên trang facebook bán hàng để khách nào gần đó có nhu cầu lấy hàng giúp và giảm
giá 15%. Công ty X đã xác nhận mình sẽ lấy toàn bộ số hàng trên với. Có phải Công ty
Thu Hoa đang thực hiện hành vi giảm giá với Công ty X không?
LTM2 – N 4 (Sưu tập và biên soạn: Ths. Nguyễn Quang Huy) (Dùng cho cả 3
nhóm)
Ông Ching Chong Đại là chủ sở hữu của thương hiệu trà sữa “Đai tea” ở Đài Loan
được thành lập vào năm 2002. Trà sữa “Đai tea” rất phổ biến ở Đài Loan và đã bắt đầu
vươn ra các thị trường khác trong khu vực Châu Á theo mô hình nhượng quyền thương
mại như Laos, Campuchia, Myanmar. Trong thời gian này, quán cũng bổ sung một số
thức uống và hương liệu bản địa để phù hợp với khẩu vị của địa phương.
Tháng 7/2011, Ban giám đốc Đai tea ra quyết định mở rộng thị trường sang Việt
Nam. Để tìm kiếm đối tác, Đai tea đưa ra chính sách giảm 30% phí nhượng quyền cho
các cửa hàng mở trong 3 năm đầu tiên, với điều kiện bên nhận nhượng quyền phải mở tối
thiểu 6 cửa hàng trong 3 năm đó. Cùng thời điểm đó, Đai tea đã tiến hành đăng ký hoạt
động nhượng quyền tại Việt Nam với Bộ Công Thương và các quyền sở hữu trí tuệ đối
với các nhãn hiệu và logo của Đai tea với Cục sở hữu trí tuệ.
Ông Nguyễn Anh Đức là Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn nước giải khát
Đa Đa có trụ sở ở TPHCM. Bắt trend trà sữa đang lên vào thời điểm bấy giờ, Công ty Đa
Đa cũng tiến hành nghiên cứu thị trường, tìm kiếm một thương hiệu trà sữa để đưa về
Việt Nam theo mô hình nhượng quyền thương mại. Tháng 5/2012, sau khi biết Đai tea đã
có đầy đủ giấy phép nhượng quyền ở Việt Nam, ông Anh Đức chủ động liên hệ đại diện
thương hiệu trà sữa Đai tea là ông Đại để đàm phán về vấn đề nhượng quyền. Ngày
27/6/2012, Công ty trách nhiệm hữu hạn nước giải khát Đa Đa (đại diện là ông Anh Đức)
4
và thương hiệu trà sữa Đai tea (đại diện là ông Đại) chính thức ký hợp đồng nhượng
quyền thương mại tại trụ sở Đa Đa ở TPHCM. Hợp đồng nhượng quyền có những nội
dung đáng chú ý như sau:
- Giấy phép nhượng quyền cấp cho Đa Đa là giấy phép không độc quyền.
- Đa Đa được quyền sử dụng hệ thống của Đai tea, bao gồm tất cả nhãn hiệu, nhận
diện thương hiệu Đai tea vào việc kinh doanh trà sữa trên lãnh thổ Việt Nam trong thời
hạn 5 năm kể từ thời điểm ký hợp đồng này.
- Bên nhận quyền không được nhượng quyền lại nếu không có sự đồng ý bằng văn
bản của bên nhượng quyền.
- Mỗi cửa hàng trong hệ thống Đai tea được đảm bảo một địa bàn kinh doanh phù
hợp để khai thác quyền thương mại của hệ thống. Bên nhượng quyền sẽ không cấp phép
sử dụng thương hiệu Đai tea cho bất cứ cửa hàng nào khác trong phạm vi địa bản của một
cửa hàng đã được cấp phép, nếu không đảm bảo doanh thu của cửa hàng đã được cấp
phép của bên nhận quyền sẽ không bị giảm sút
- Tiêu chuẩn và tính đồng nhất:
+ Bên nhận quyền phải tuân thủ hướng dẫn sử dụng hệ thống bao gồm nhưng
không giới hạn những nội dung sau đây: bảng hiệu, cách xây dựng, bài trí cửa hàng, thực
đơn, công thức pha chế, đồng phục nhân viên.
+ Bên nhận quyền phải bán tất cả các mục trên thực đơn menu và các sản phẩm
khác phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn và yêu cầu khác của Đai tea.
- Vi phạm và chấm dứt:
+ Nếu bên nhượng quyền có hành vi vi phạm hợp đồng dẫn tới thiệt hại đáng kể
cho hoạt động kinh doanh của bất kỳ cửa hàng nào do bên nhận quyền quản lý, thì bên
nhượng quyền sẽ phải bồi thường cho bên nhận quyền bằng cách miễn hoặc giảm phí
nhượng quyền bổ sung cho cửa hàng liên quan hoặc một hình thức đền bù khác do các
bên thỏa thuận.
+ Nếu bên nhận quyền có hành vi vi phạm hợp đồng như được xác định dưới đây,
bên nhượng quyền có thể chấm dứt Hợp đồng trong khoảng thời gian 30 ngày kể từ ngày
bên nhận quyền nhận được thông báo vi phạm, nếu bên nhận quyền không khắc phục
được hành vi vi phạm. Cụ thể: (i) Không lắp đặt và sử dụng thiết bị hoặc bài trí cửa hàng
theo bài trí của bên nhượng quyền; (ii) Thay đổi menu đồ uống hoặc không sử dụng các
5
nguyên liệu từ các nhà cung cấp mà bên nhượng quyền chỉ định; (iii) Không duy trì cửa
hàng trong tình trạng tốt.
- Giải quyết tranh chấp: Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng
này, các bên sẽ giải quyết thông qua thương lượng đàm phán trên tinh thần hợp tác; nếu
không đạt được thỏa thuận trong vòng 7 (bảy) ngày, vấn đề tranh chấp sẽ được giải quyết
bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) theo quy tắc tố tụng
trọng tài của Trung tâm này.
Tháng 8/2012, Đa Đa mở cửa hàng nhượng quyền đầu tiên ở số 1 phố đi bộ
Nguyễn Huệ, Quận 1. Tuy nhiên, do một số nhà cung cấp của Đai tea ở Đài Loan,
Hongkong không thể cung cấp nguyên liệu, thiết bị pha trà cho Đa Đa do quy định hạn
chế nhập khẩu của Việt Nam, ông Anh Đức đã gửi mail cho ông Đại đề xuất khắc phục
bằng cách sử dụng nguyên liệu và thiết bị thay thế sẵn có ở Việt Nam. Ông Đại đồng ý
nhưng lưu ý rằng việc chấp thuận chỉ là tạm thời. Sau gần 2 năm hoạt động, quán trà sữa
mang thương hiệu Đai tea ở Quận 1 dần tạo được uy tín về chất lượng dịch vụ. Tháng
1/2014, Đa Đa bắt đầu tiến hành mở các quán trà sữa Đai tea ở các địa bàn khác. Tính tới
tháng 9 cùng năm, Đa Đa đã mở được 3 quán trà mới, trong đó 01 quán tại quận 3, 01
quán tại quận 5 và 01 quán tại Bình Dương.
Tháng 5/2015, Đai tea ký hợp đồng nhượng quyền với một đối tác Việt Nam khác
là Công ty cổ phần Tập đoàn Quang Huy có trụ sở ở Hà Nội. Đối tác này không được
hưởng ưu đãi như Đa Đa nhưng với kinh nghiệm trong ngành F&B và tiềm lực tài chính
mạnh, tới cuối năm 2015, Quang Huy đã mở được 8 quán trà sữa Đai Tea: 02 quán ở Hà
Nội, 01 quán ở Đà Nẵng và 05 quán ở TPHCM. Trong đó các quán Đai Tea ở TPHCM có
vị trí khá gần với các quán Đai Tea của Đa Đa.
Tháng 6/2015, Đai tea gửi thông báo đến Đa Đa yêu cầu Đa Đa phải tiến hành
nhập khẩu thiết bị và nguyên liệu từ các nhà cung cấp Đài Loan, Hongkong của Đai tea.
Ông Anh Đức rất không hài lòng về những sự kiện này, cho rằng nó ảnh hưởng tiêu cực
tới công việc kinh doanh của Đa Đa. Ngày 26/07/2015, ông Anh Đức gửi email cho ông
Đại với nội dung chính như sau:
- Thị trường hiện đang tiếp nhận thương hiệu trà sữa Đai tea rất tốt nhờ công sức
của Đa Đa
6
- Việc Đai tea ký hợp đồng nhượng quyền với đối tác khác; mở nhiều quán trà
trong cùng địa bàn một quận mà Đa Đa đã có cửa hàng làm ảnh hưởng đáng kể đến hoạt
động kinh doanh của Đa Đa.
- Việc yêu cầu Đa Đa phải nhập khẩu thiết bị và nguyên liệu từ nước ngoài sẽ làm
gia tăng chi phí vận hành, gây thêm khó khăn cho Đa Đa.
Ngày 27/07, ông Đại phản hồi email của ông Anh Đức, theo đó, ông Đại cho rằng:
- Đai tea ghi nhận công sức của Đa Đa trong việc bước đầu gây dựng thương hiệu
cho Đai tea ở Việt Nam
- Quận 1, quận 3, quận 5 là những quận trung tâm của TPHCM, đang có sự gia
tăng nhanh của các chung cư cao cấp, tòa nhà văn phòng, trung tâm thương mại, do đó
việc Đai tea gia tăng số cửa hàng hiện diện ở khu vực này sẽ không gây ảnh hưởng tới
hoạt động kinh doanh của Đa Đa.
Tháng 09/2015, Ông Đại cử ông Chiến bí mật tiến hành thanh tra hoạt động của
các cửa hàng Đai tea thuộc hệ thống của Đa Đa tại Việt Nam. Ông Chiến báo cáo một số
vi phạm như sau:
- Một số thức uống tại các cửa hàng của Đa Đa có thêm một số hương liệu Việt
Nam vào công thức pha chế khác với công thức được hướng dẫn như là trái tắc (quả
quất), thạch dừa, hạt đỗ đen.
- Menu đồ uống có xuất hiện một số đồ uống mới không có trong Menu gốc của
Đai tea như trà chanh, trà cỏ thơm. Theo ghi nhận tại các cửa hàng ở TPHCM thì những
thức uống này bán khá chạy.
- Màu sơn đỏ trong các quán trà sữa của Đa Đa có màu nhạt hơn so với màu đỏ
trên logo gốc của Đai tea.
Ngày 20/09/2015, ông Đại đã viết email gửi cho ông Anh Đức với nội dung:
- Chúng tôi đã phát hiện những sai phạm của Đa Đa so với các nghĩa vụ đã ký kết
theo hợp đồng nhượng quyền. Chúng tôi yêu cầu ông phải có những biện pháp khẩn cấp
để điều chỉnh những vi phạm liên quan tới công thức pha chế, menu đồ uống và màu sơn
trong các quán trà của Đa Đa.
- Mặc dù việc bổ sung vào đồ uống hương liệu thuần Việt là thể giúp tăng doanh
số bán hàng, tuy nhiên hợp đồng quy định rõ Đa Đa không được bổ sung thay đổi menu,
7
công thức pha chế mà không được sự đồng ý của chúng tôi. Tính đồng bộ, thống nhất của
hệ thống là vô cùng quan trọng với chúng tôi.
- Nếu Đa Đa không có hành vi kịp thời khắc phục các vi phạm liên quan, chúng tôi
có thể sẽ phải chấm dứt hợp đồng nhượng quyền với Đa Đa theo đúng quy định trong
Hợp đồng.
Ngày 20/12/2015, ông Chiến tiếp tục sang Việt Nam để kiểm tra tình trạng hoạt
động của các quán trà sữa thuộc hệ thống Đa Đa và có ghi nhận như sau:
- Màu sơn trong các cửa hàng của Đa Đa được sơn đỏ lại như yêu cầu
- Menu đồ uống đã được xây dựng lại, bỏ đi các đồ uống, các lựa chọn về hương
liệu Việt Nam được thêm vào đồ uống (topping) như theo yêu cầu của Đai tea. Tuy
nhiên, trên thực tế, nhân viên vẫn phục vụ những đồ uống và topping đó nếu được yêu
cầu. Một số nhân viên còn gợi ý khách hàng có muốn thêm thạch dừa hay đỗ đen hay
không?
- Ông Chiến đã thử uống một số đồ uống thêm vào thạch dừa, trái tắc và hạt đỗ
đen, mặc dù hương liệu thêm vào làm thay đổi vị của đồ uống nhưng vẫn có hương vị rất
dễ chịu.
Ngày 02/01/2016, ông Đại gửi quyết định thông báo chấm dứt hợp đồng với Đa
Đa và yêu cầu Đa Đa phải gỡ biển hiệu Đai tea, đồng thời chấm dứt toàn bộ hoạt động
kinh doanh dưới tên thương hiệu hiệu Đai tea trong thời hạn 15 ngày làm việc. Ông Anh
Đức từ chối hợp tác. Trong công văn phản hồi Đai tea vào ngày 04/01/2016, ông Anh
Đức đưa ra quan điểm như sau:
- Đa Đa sẽ không gỡ biển hiệu Đai tea do phía Đai tea đã vi phạm hợp đồng khi
tiến hành nhượng quyền cho các đối thủ của Đa Đa và cho phép họ mở cửa hàng gần cửa
hàng của Đa Đa mà không thông báo trước.
- Trong trường hợp Đai tea muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng, Đai tea phải
bồi thường thiệt hại cho Đa Đa bao gồm: (i) khoản đầu tư các nhà quán trà sữa đang hoạt
động; (ii) tiền phạt vi phạm hợp đồng thuê mặt bằng nếu phải buộc đóng cửa hàng; (iii)
khoản lợi nhuận bị mất trong 02 năm còn lại của hợp đồng.
8
Ngày 06/05/2016, Đai tea đã nộp đơn khởi kiện lên Trung tâm trọng tài quốc tế
Việt Nam trực thuộc Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC)1.
Câu hỏi:
Nhóm 1:
Giả sử em là luật sư được Đai tea lựa chọn làm đại diện theo ủy quyền để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp ở Việt Nam, hãy trả lời các câu hỏi sau:
1. Xác định các vấn đề pháp lý cần phải giải quyết trong tranh chấp nói trên giữa
Đai tea và Đa Đa
2. Trình bày lập luận để bảo vệ cho Đai Tea và nêu các vi phạm của Đa Đa có thể
khai thác được kèm căn cứ pháp lý.
3. Trình bày các điểm bất lợi mà luật sư phía Đa Đa có thể khai thác được và
hướng phản biện kèm căn cứ pháp lý.
Nhóm 2:
Giả sử em là luật sư được Đa Đa lựa chọn làm đại diện theo ủy quyền để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp, hãy trả lời các câu hỏi sau:
1. Xác định các vấn đề pháp lý cần phải giải quyết trong tranh chấp nói trên giữa
Đa Đa và Đai tea
2. Trình bày lập luận để bảo vệ cho Đa Đa và nêu các vi phạm của Đai tea có thể
khai thác dược kèm căn cứ pháp lý.
3. Trình bày các điểm bất lợi mà luật sư phía Đai tea có thể khai thác được và
hướng phản biện kèm căn cứ pháp lý.
Nhóm 3:
Giả sử em là trọng tài của VIAC được Đai tea và Đa Đa lựa chọn để đưa ra phán
quyết cuối cùng cho tranh chấp nói trên, hãy trả lời các câu hỏi sau:
1. Xác định các vấn đề pháp lý cần phải giải quyết trong tranh chấp nói trên giữa
Đa Đa và Đai tea
2. Xác định các văn bản pháp luật sẽ được sử dụng trong giải quyết tranh chấp.
1 Trọng tài thương mại là Phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại do các bên trong tranh
chấp thỏa thuận lựa chọn. Chức năng của trọng tài cơ bản giống tòa án nhưng thủ tục tố tụng có phần mềm dẻo
hơn và phán quyết của trọng tài mang tính chung thẩm.
9
3. Dựa trên các căn cứ trong đề bài, nêu nhận định của em về tranh chấp giữa Đa
Đa và Đai tea
LTM2 – N 5 (Tác giả: Ths. Nguyễn Quang Huy)
Ngày 15/5/2020, Công ty TNHH TĐ đặt hàng mua 100 tấm da ca sấu từ Doanh
nghiệp tư nhân QH để sản xuất 1000 bộ Bikini 2 mảnh bán cho Công ty cổ phần AĐ.
Công ty TNHH TĐ và Doanh nghiệp tư nhân QH đã ký hợp đồng mua bán vào ngày
16/5/2020, theo đó hai bên thống nhất thời gian giao hàng là 30 ngày kể từ ngày giao kết
hợp đồng.
Vào ngày hôm sau, tức 17/5/2020, Công ty TĐ ký hợp đồng mua bán hàng hóa với
Công ty cổ phần AĐ, cam kết giao đủ 1000 bộ Bikini trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày
giao kết hợp đồng. Hợp đồng ký giữa TĐ và AĐ có thỏa thuận phạt vi phạm 8% giá trị
hợp đồng trong trường hợp có vi phạm.
Ngày 10/6/2020, Doanh nghiệp tư nhân QH gửi email cho Công ty TĐ với nội
dung rằng, do dịch Covid hoành hành ở Châu Âu nên da ca sấu đã bị kẹt ở cảng Nhật
Bản, không kịp về nước đúng hạn, do đó yêu cầu Công ty TĐ gia hạn thời gian giao
hàng. Công ty TĐ sau đó đã từ chối gia hạn, yêu cầu DNTN QH thực hiện đúng hợp
đồng do sức ép từ phía đối tác là Công ty cổ phần AĐ.
Ngày 12/6/2020, Doanh nghiệp tư nhân QH tiếp tục gửi email cho Công ty TĐ với
nội dung có thể nhập nguyên liệu từ nguồn khác nhưng giá thành cao hơn và chất lượng
không giống với hàng mẫu trước đó. Tuy nhiên do tình thế gấp gáp, DNTN QH đề nghị
Công ty TĐ nhận lô hàng nói trên và sửa đổi hợp đồng, tăng giá trị hợp đồng thêm 20%.
Công ty TĐ tiếp tục từ chối đề nghị nói trên.
Cho tới ngày 16/6/2020, DNTN QH không thể giao hàng đúng hạn với lý do cửa
khẩu bị đóng do dịch Covid. Hệ quả là Công ty TĐ không thể sản xuất Bikini kịp cho
Công ty AĐ. Công ty AĐ sau đó đã yêu cầu Công ty TĐ trả tiền phạt vi phạm theo hợp
đồng. Nhân công gia công bikini của Công ty TNHH TĐ trong thời gian chờ nguyên liệu
đã phải ngồi chơi do không có việc làm tuy nhiên vẫn nhận lương đầy đủ.
Câu hỏi:
1. Điều khoản phạt vi phạm giữa Công ty TĐ và Công ty AĐ có giá trị pháp lý
không?
10
2. Công ty TNHH TĐ yêu cầu DNTN QH bồi thường thiệt hại. Nêu nhân định của
em về phán quyết của tòa đối với yêu cầu này.
3. Giả sử DNTN QH phải bồi thường cho Công ty TNHH TĐ, xác định phạm vi
bồi thường theo quy định của pháp luật hiện hành.
LTM2 – N 6 (Tác giả: Ths. Phạm Thị Huyền)
Ngày 1/1/2021, bà Giang - giám đốc công ty CPTM Hương Giang (ngành nghề
kinh doanh là sản xuất hàng điện tử điện lạnh) gọi điện cho giám đốc công ty TNHH
Huyền Trang thoả thuận về việc bán 1.000 chiếc điều hòa với giá 7.500.000 đồng/chiếc
giao hàng vào ngày 1/3/2021. Ngoài ra, khi trao đổi qua điện thoại, 2 bên đã thỏa thuận:
"Mọi tranh chấp phát sinh liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết tại Trung Tâm
Trọng Tài Quốc Tế Việt Nam (VIAC)”.
Ngày 27/2/2021, do giá điều hòa trên thị trường tăng cao, bà Giang gửi thông báo
cho công ty Huyền Trang về việc công ty Hương Giang sẽ ko thực hiện hợp đồng trên,
với lý do hợp đồng này không có hiệu lực do hai bên chưa ký kết bằng văn bản.
Công ty Huyền Trang yêu cầu công ty Hương Giang phải thực hiện hợp đồng theo
đúng thỏa thuận nhưng công ty Hương Giang ko thực hiện. Sau khi thương lượng ko
thành, công ty Huyền Trang đã làm đơn khởi kiện công ty Hương Giang tại Trung Tâm
Trọng Tài Quốc Tế Việt Nam yêu cầu công ty Hương Giang phải: tiếp tục thực hiện hợp
đồng, bồi thường thiệt hại cho công ty Huyền Trang 1 tỷ đồng (tiền lãi công ty dự tính có
được từ việc kinh doanh số điều hòa trên cơ sở so sánh giá mua và giá bán trên thị trường
vào thời điểm nhận hàng), đồng thời, yêu cầu công ty Hương Giang nộp phạt 8% giá trị
hợp đồng.
Câu hỏi:
1. Xác định hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hoá trên.
2. Những yêu cầu của công ty Huyền Trang với công ty Hương Giang có hợp pháp
hay không? Nêu cách thức giải quyết vụ việc trên?
3. Những hình thức nào có thể được sử dụng để giải quyết tranh chấp trên.
11
LTM2 – N 7 (Tác giả: Ths. Phạm Thị Huyền)
Tháng 5/2021, giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn Toàn Thắng ký hợp đồng
giao đại lý số 15/HĐĐL với công ty cổ phần Bất Bại với một số điều khoản sau:
- Công ty Bất Bại chịu trách nhiệm bán 500 thùng sữa chua mỗi tháng của công ty
Toàn Thắng với giá giao đại lý là 180.000 đồng/ 1 thùng
- Công ty Bất Bại chỉ bán duy nhất sản phẩm sữa của công ty Toàn Thắng
- Quyền sở hữu hàng hoá được chuyển cho công ty Bất Bại từ thời điểm hàng hoá
vận chuyển đến kho của công ty Bất Bại.
- Thời hạn hợp đồng là 03 năm kể từ ngày ký.
Câu hỏi:
1. Hàng hoá đang trên đường vận chuyển từ công ty Toàn Thắng đến kho hàng của
công ty Bất Bại thì gặp lũ quét khiến một số lượng lớn hàng bị hỏng. Xác định chủ thể
chịu rủi ro trong trường hợp này.
2. Một số khách hàng sau khi mua sữa chua tại cửa hàng của công ty Bất Bại bị
ngộ độc. Xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách hàng?
3. Do nhận thấy sản phẩm của công ty Toàn Thắng khó tiêu thụ, công ty Bất Bại
đã gửi thông báo về việc chấm dứt hợp đồng đại lý với công ty Toàn Thắng. Công ty
Toàn Thắng không đồng ý, yêu cầu Bất Bại buộc thực hiện đúng hợp đồng và nộp phạt
do vi phạm hợp đồng. Nêu cách thức xử lý tình huống trên.
4. Biết trong hợp đồng các bên còn thoả thuận “Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp
đồng này được giải quyết bởi trọng tài thương mại hoặc toà án theo quy định pháp luật
hiện hành”. Hãy nhận xét về hiệu lực của thoả thuận trọng tài trong hợp đồng trên
LTM2 - N8 (Tác giả: TS Trần Thi Bảo Ánh)
Ngày 2/4/2019, công ty trách nhiệm Hải An ký hợp đồng mua bán hàng hóa số
01/HĐMBHH với công ty cổ phần Thanh Trà tại tỉnh Hải Phòng của Việt Nam. Trong
hợp đồng có một số điều khoản sau:
- Công ty Hải An bán cho công ty Thanh Trà hai chiếc máy mài chuyên dụng,
model 2M.2125 do Trung Quốc sản xuất, chất lượng máy mới 100%
- Tổng giá trị hợp đồng là 1,9 tỷ đồng
- Thời hạn giao hàng: từ ngày 15/4/2019 đến ngày 25/4/2019
12
- Phạt vi phạm hợp đồng:
+ Giao hoặc nhận hàng chậm: Phạt 5% tổng giá trị số hàng giao hoặc nhận chậm
cho mỗi đợt giao hoặc nhận hàng chậm.
+ Hàng giao không đúng chất lượng: Phạt 8% giá trị hợp đồng.
- Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng số 01/HĐMBHH được giải quyết tại Trung
tâm trọng tài thương mại.
Căn cứ vào pháp luật hiện hành, hãy cho biết:
1. Các văn bản pháp luật điều chỉnh hợp đồng số 01/HĐMBHH? Giả định vào thời
điểm công ty Hải An và công ty Thanh Trà ký hợp đồng số 01/HĐMBHH, hàng hóa đang
trên đường vận chuyển từ Đà Nẵng về Hải Phòng và sau đó tàu hàng gặp nạn khiến toàn
bộ hàng hóa trên tàu bị hư hỏng. Xác định rủi ro thuộc về bên nào? Tại sao?
2. Công ty Hải An có được miễn trách nhiệm do không giao được hàng cho công
ty Thanh Trà không? Vì sao?
3. Điều khoản phạt vi phạm hợp đồng của công ty Hải An và công ty Thanh Trà có
hợp pháp không? Tại sao?
4. Thỏa thuận trọng tài của các bên có vô hiệu không? Tại sao? Hướng giải quyết
như thế nào?
LTM2 - N9 (Sưu tầm và biên tập: TS Trần Thị Bảo Ánh)
Ngày 15/11/2016, công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và xây dựng V ký hợp
đồng mua 223 tấn thép loại phi 28 của công ty cổ phần xuất nhập khẩu thép K. Trong hợp
đồng hai bên đã thỏa thuận: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này được giải quyết
tại trung tâm trọng tài thương mại M theo thủ tục tố tụng trọng tài quy định tại Quy tắc
tố tụng của Trung tâm trọng tài thương mại M”.
Sau khi giao tiền và nhận đủ 223 tấn thép tại kho của công ty K, công ty V phát
hiện công ty K đã giao thép phi 26 nên đã yêu cầu công ty K thực hiện đúng hợp đồng và
gia hạn cho công ty K giao hàng vào ngày 20/11/2016. Tuy nhiên, công ty K vẫn không
thực hiện giao hàng như đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Ngày 25/11/2016, công ty V đã làm đơn kiện công ty K và gửi đến Trung tâm
trọng tài thương mại M có trụ sở tại quận CG, thành phố HN. Ngày 30/11/2016, chủ tịch
13
trung tâm trọng tài M đã ra quyết định thành lập Hội đồng trọng tài gồm ba trọng tài viên
để giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa giữa công ty V và công ty K.
Ngày 15/12/2016, Hội đồng trọng tài đã mở phiên họp và ra phán quyết buộc công
ty K phải bồi thường thiệt hại là 293 triệu đồng cho công ty V. Công ty K đã làm đơn yêu
cầu Tòa án quận CG tuyên hủy phán quyết trọng tài vì trong hợp đồng mua bán thép các
bên không có thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại. Tòa án nhân dân quận CG đã thụ lý
đơn và chỉ định Hội đồng xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của công ty K. Hội
đồng xét đơn đã ra quyết định không hủy phán quyết trọng tài với lý do chế tài bồi
thường thiệt hại là chế tài đương nhiên, không cần các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
Căn cứ vào pháp luật hiện hành, hãy cho biết:
1. Xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trung tâm trọng tài thương mại
M.
2. Việc thành lập Hội đồng trọng tài của Chủ tịch Trung tâm trọng tài thương mại
M có hợp pháp không? Giải thích rõ.
3. Tòa án nhân dân quận CG có thẩm quyền thụ lý đơn yêu cầu hủy phán quyết
trọng tài của công ty K không? Tại sao?
4. Lý do Hội đồng xét đơn xét đơn ra quyết định không hủy phán quyết trọng tài
có hợp pháp không? Vì sao?
LTM2 - N10 (Tác giả: Ths. Lê Ngọc Anh)
Công ty cổ phần Nguyễn Long (bên A) ký hợp đồng mua bán máy tính với công ty
TNHH Minh Bảo (bên B). Trong đó có một số điều khoản sau:
- Bên A bán 100 máy tính để bàn HP Pavilion 590-P0108D cho bên B với giá
7.990.000 đồng/máy;
- Bên A giao hàng vào ngày 3/6/2020 tại trụ sở chính của bên B;
- Bên B có quyền kiểm tra hàng hoá khi bên A giao hàng đến trụ sở chính của bên
B. Nếu hàng hoá có khuyếm khuyết thì phải thông báo cho bên A trong thời hạn 02 ngày
kể từ thời điểm kiểm tra hàng hoá;
- Bên B phải thanh toán đầy đủ tiền hàng trong thời hạn 07 ngày kể từ khi nhận đủ
hàng;
- Bên có hành vi vi phạm sẽ phải chịu phạt 8% giá trị hợp đồng;
14
1. Ngày 3/6/2020, bên A giao cho bên B 80 chiếc máy tính với giá 7.990.000
đồng/máy và 20 chiếc máy tính với giá 8.490.000 đồng (do bên A không đủ hàng để giao
nên phải nhập hàng từ công ty khác dẫn đến giá bị cao hơn). Tuy nhiên, bên B từ chối
nhận 20 chiếc máy tính giá cao hơn.
a. Hỏi bên B có vi phạm nghĩa vụ nhận hàng không?
b. Hãy tư vấn cách thức xử lý tình huống này?
2. Ngày 7/6/2020, bên B phát hiện có 10 chiếc máy tính không thể sử dụng được.
Bên B yêu cầu bên A đổi 10 chiếc máy tính khác. Bên A không đồng ý vì cho rằng bên B
đã kiểm tra hàng hoá và không thông báo cho bên A trong thời hạn như đã thoả thuận.
Xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm?
3. Đến hạn thanh toán, bên B không thanh toán vì cho rằng bên A chưa giao đủ
hàng, bên B yêu cầu bên A phải chịu khoản tiền phạt 63.920.000 đồng và bồi thường 50
triệu đồng. Bên A cho rằng mình không vi phạm nghĩa vụ giao hàng, yêu cầu bên B thanh
toán đủ tiền hàng và chịu khoản tiền phạt 64.720.000 đồng (8%x(80x7.990.000 +
20x8.490.000)). Nhận xét về yêu cầu của các bên?
LTM2 – N 11 (Tác giả: Ths. Lê Ngọc Anh)
Công ty cổ phần sữa AH (bên A) ký hợp đồng giao đại lý số 01/HĐĐL cho hộ
kinh doanh Tiến Linh (bên B) mặt hàng sữa tươi với một số điều khoản sau:
- Bên B sẽ bán các sản phẩm sữa tươi do bên A sản xuất (danh mục sản phẩm đính
kèm hợp đồng);
- Bên B sẽ bán các sản phẩm sữa tươi theo giá do bên A ấn định;
- Bên B sẽ được hưởng 20% trên giá bán mỗi sản phẩm;
1. Xác định hình thức đại lý theo hợp đồng số 01/HĐĐL?
2. Để xúc tiến việc bán hàng, công ty cổ phần sữa AH đã thực hiện một số hoạt
động sau đây:
- Công ty cổ phần sữa AH thực hiện quảng cáo trên website của công ty;
- Công ty cổ phần sữa AH thực hiện chương trình khuyến mại trên phạm vi cả
nước: mỗi lốc sữa (gồm 4 hộp) tặng kèm 1 hộp sữa cùng loại. Đồng thời khách hàng mua
6 lốc sữa trở lên sẽ được bốc thăm trúng thưởng.
15
Hỏi:
a. Công ty cổ phần sữa AH có được thực hiện hoạt động quảng cáo không?
b. Tư vấn thủ tục thực hiện chương trình khuyến mại nêu trên?
3. Trong một lần kiểm tra đột xuất, Công ty cổ phần sữa AH phát hiện hộ kinh
doanh Tiến Linh không thực hiện đúng chương trình khuyến mại của công ty đến khách
hàng mà bóc hết các hộp sữa tặng kèm để bán. Do đó, Công ty cổ phần sữa AH tuyên bố
đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý với hộ kinh doanh Tiến Linh, đồng thời yêu cầu
hộ kinh doanh Tiến Linh thanh toán toàn bộ các hộp sữa đã bóc ra để bán và bồi thường
50 triệu đồng do không thực hiện đúng chương trình khuyến mại, khiến khách hàng nghĩ
rằng Công ty cổ phần sữa AH quảng cáo gian dối, ảnh hưởng đến uy tín của công ty. Phía
hộ kinh doanh Tiến Linh yêu cầu Công ty cổ phần sữa AH phải bồi thường thiệt hại vì đã
đơn phương chấm dứt hợp đồng. Nhận xét về yêu cầu của các bên?
LTM2 – N 12 (Tác giả: Ths. Cao Thanh Huyền)2
Ngày 02/08/2019, công ty TNHH Bình An có trụ sở tại Phường T, Quận C, Thành
phố HN (Bên bán) và công ty cổ phần Đạt Phú có trụ sở tại Phường K, thành phố P, Tỉnh
NĐ (Bên mua) ký hợp đồng mua bán hàng hóa số 38/2019/HĐMB với các điều khoản
chính như sau:
- Đối tượng của hợp đồng: SMART TIVI OLED
- Số lượng: 100 cái
- Tổng trị giá của hợp đồng: 60.581,32 USD (Sáu mươi nghìn năm trăm tám mươi
mốt đô la Mỹ và ba mươi hai cent)
- Phương thức thanh toán: Chia làm hai đợt: đợt đầu bên mua thanh toán 50% giá
trị đơn hàng sau khi ký hợp đồng, đợt hai bên mua thanh toán nốt 50% giá trị đơn hàng
còn lại trong vòng ba ngày sau khi ký biên bản bàn giao hàng hóa.
- Thời gian giao hàng: Ngay sau khi bên mua thanh toán 50% giá trị đơn hàng.
- Phạt vi phạm hợp đồng đối với hành vi giao hoặc nhận hàng chậm: 5% tổng giá
trị hợp đồng.
- Giải quyết tranh chấp: Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này sẽ được giải
quyết bằng thương lượng. Trong trường hợp thương lượng không thành công, tranh chấp
2 Tình huống được xây dựng dựa trên Bản án số 15/2011/KDTM-ST ngày 29/07/2011 của TAND Quận T, TPHCM.
16
sẽ được giải quyết bằng trọng tài thương mại hoặc tòa án nhân dân có thẩm quyền theo
quy định pháp luật.
Câu hỏi:
1. Được biết ông Nguyễn Bình An – Giám đốc công ty TNHH Bình An và bà Bùi
Mai Ngọc – Trưởng phòng kinh doanh công ty cổ phần Đạt Phú là hai đại diện thay mặt
cho các bên đứng ra đàm phán, ký kết hợp đồng. Căn cứ vào quy định pháp luật hiện
hành, anh (chị) hãy xác định hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa số
38/2019/HĐMB?
2. Theo anh (chị), những điều khoản hợp đồng nêu trên đã phù hợp với quy định
pháp luật và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên hay chưa? Vì sao? Bằng những
hiểu biết về hợp đồng mua bán hàng hóa và thông tin được đưa ra ở đề bài, anh (chị) hãy
lập bản hợp đồng mua bán hàng hóa hoàn chỉnh?
Tình tiết bổ sung: Sau khi hợp đồng số 38 có hiệu lực thi hành, công ty Đạt Phú
đã thanh toán trước cho bên công ty Bình An 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng)
vào ngày 05/08/2019 theo phiếu ủy nhiệm chi của Ngân hàng BIDV – chi nhánh TL.
Ngày 06/08/2019, công ty Bình An đã bàn giao số hàng hóa theo thỏa thuận trong
hợp đồng số 38 cho công ty TNHH dịch vụ vận tải Tân Mai để thực hiện việc vận chuyển
đến cho công ty Đạt Phú. Tuy nhiên, trên đường vận chuyển hàng hóa, xe hàng của công
ty Tân Mai gặp tai nạn giao thông, khiến cho toàn bộ số hàng nhận vận chuyển bị hư
hỏng hoàn toàn. Vì sự việc này, công ty Đạt Phú không có hàng để giao cho đối tác nên
bị đối tác phạt vi phạm hợp đồng 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) và hủy bỏ hợp
đồng.
Trước sự việc trên, công ty Đạt Phú đã nhiều lần gửi văn bản trao đổi, thương
lượng với công ty Bình An nhằm chia sẻ trách nhiệm nhưng không nhận được sự thiện
chí, hợp tác từ công ty Bình An. Vì vậy, công ty Đạt Phú đã khởi kiện công ty Bình An ra
Tòa án nhân dân quận C, thành phố HN với yêu cầu:
- Buộc công ty Bình An hoàn trả số tiền 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng)
đã được công ty Đạt Phú thanh toán vào ngày 05/08/2019;
- Buộc công ty Bình An nộp phạt vi phạm 70.000.000 đồng (70 triệu đồng) vì
hành vi giao hàng không đúng thời hạn.
17
- Buộc công ty Bình An phải bồi thường thiệt hại cho công ty Đạt Phú số tiền đã bị
đối tác phạt vi phạm hợp đồng là 100.000.000 đồng (100 triệu đồng).
Tuy nhiên, công ty Bình An không chấp nhận yêu cầu của công ty Đạt Phú. Đồng
thời, công ty Bình An còn yêu cầu công ty Đạt Phú thanh toán nốt 50% giá trị đơn hàng
còn lại là 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng) theo thỏa thuận trong hợp đồng số
38/2019/HĐMB vì tính đến thời điểm khởi kiện, công ty Bình An đã hoàn tất nghĩa vụ
giao hàng theo thỏa thuận. Câu hỏi:
3. Căn cứ vào quy định pháp luật hiện hành, anh (chị) hãy xác định tính hợp pháp
của những yêu cầu được đưa ra bởi công ty Bình An và công ty Đạt Phú nêu trên?
4. Tòa án nhân dân quận C, thành phố HN có thẩm quyền thụ lý và giải quyết đơn
khởi kiện của công ty Đạt Phú hay không? Vì sao?
LTM2 - N13 (Tác giả: Ths. Cao Thanh Huyền)3
Ngày 04/10/2018, công ty cổ phần An Hợp (có trụ sở tại phường M, thành phố P,
tỉnh HN) (Bên A) ký hợp đồng phân phối hàng hóa số 05/HĐPP với công ty TNHH
Trung Thủy (có trụ sở tại phường T, quận C, thành phố BN) (Bên B) để phân phối độc
quyền các sản phẩm nồi cơm điện và nồi chiên không dầu mang thương hiệu BEEs! của
công ty An Hợp tại thành phố BN. Trong hợp đồng có một số điều khoản như sau:
- Khi chưa được sự đồng ý của Bên B, Bên A không được quyền bán cho đối tác
thứ ba trong khu vực địa lý mà Bên B đã độc quyền. Nếu Bên A vi phạm, bên A phải nộp
cho bên B khoản tiền phạt vi phạm bằng 5% tổng giá trị hợp đồng.
- Khi chưa được sự đồng ý của Bên A, Bên B không được mua các sản phẩm của
Bên A từ bất kỳ nguồn cung cấp nào khác ngoài Bên A và không được phân phối thêm
bất cứ sản phẩm nào khác có cạnh tranh trực tiếp hay gián tiếp với sản phẩm của Bên A.
- Hàng hóa vẫn thuộc quyền sở hữu của Bên A cho đến khi Bên B bàn giao hàng
hóa cho khách hàng.
- Bên A được quyền quy định giá bán lẻ hàng hóa ra ngoài thị trường.
- Bên B thanh toán cho Bên A tương ứng với giá trị số lượng hàng giao ghi ở mỗi
hóa đơn trong vòng 15 ngày kể từ ngày cuối cùng của tháng Bên B đặt hàng. Với đơn
3 Tình huống được xây dựng dựa trên Bản án số 14/2014/KDTM-ST ngày 11/07/2014 và Bản án số 02/2014/KDTM-
ST ngày 14/01/2014 của TAND Quận X, TPHCM.
18
hàng đầu tiên sau khi hợp đồng này có hiệu lực, Bên B thanh toán trước cho Bên A 30%
giá trị đơn hàng.
- Bên B được hưởng tiền hoa hồng tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá bán hàng hóa
ra thị trường.
- Thời hạn hợp đồng: 05 năm (60 tháng) kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực thi hành.
- Giải quyết tranh chấp: Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này sẽ được giải
quyết thông qua thương lượng. Trường hợp thương lượng không thành công, vụ tranh
chấp sẽ được giải quyết bằng trọng tài thương mại theo quy định của pháp luật.
Câu hỏi:
1. Căn cứ vào quy định pháp luật hiện hành, anh (chị) hãy xác định bản chất của
quan hệ hợp đồng thương mại nói trên có phải là hợp đồng phân phối hàng hóa hay
không? Giải thích rõ vì sao?
Tình tiết bổ sung: Sau khi hợp đồng số 05 có hiệu lực thi hành, ngày 10/10/2018,
công ty Trung Thủy tiến hành đặt đơn hàng đầu tiên thông qua việc ký Phụ lục hợp đồng
số 01/PL-05/2018/HĐPP với đại diện của công ty An Hợp. Theo Phụ lục số 01, đơn hàng
bao gồm 50 nồi cơm điện và 50 nồi chiên không dầu thương hiệu BEEs! với tổng giá trị
là 300 triệu đồng. Sau khi ký Phụ lục hợp đồng, ngày 11/10/2018, công ty Trung Thủy đã
chuyển trước 30% giá trị đơn hàng theo thỏa thuận (90 triệu đồng) vào tài khoản của
công ty An Hợp tại ngân hàng VIETCOMBANK chi nhánh TV.
Theo thỏa thuận trong Phụ lục hợp đồng, công ty An Hợp có nghĩa vụ giao hàng
trong vòng 15 ngày kể từ ngày 11/10/2018 cho công ty Trung Thủy. Tuy nhiên, sau nhiều
lần trì hoãn, công ty Trung Thủy vẫn chưa nhận được thông báo nhận hàng từ phía công
ty An Hợp. Trong thời gian này, qua tìm hiểu công ty Trung Thủy biết được công ty An
Hợp đã đem bán các sản phẩm mà công ty Trung Thủy được giao phân phối độc quyền
cho công ty TNHH Tâm Dũng và công ty cổ phần Trung Hòa. Những việc làm nói trên
của công ty An Hợp đã vi phạm nghiêm trọng hợp đồng và gây thiệt hại cho công ty
Trung Thủy. Vì vậy, công ty Trung Thủy đã làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân thành
phố P, tỉnh HN yêu cầu:
- Buộc công ty An Hợp hoàn trả số tiền 90 triệu đồng công ty Trung Thủy đã
thanh toán trước cho đơn hàng đầu tiên.
19
- Buộc công ty An Hợp phải nộp phạt do hành vi vi phạm hợp đồng với mức phạt
là 50% giá trị đơn hàng đầu tiên (tương đương 150 triệu đồng).
- Buộc công ty An Hợp phải bồi thường thiệt hại với mức bồi thường bằng 150%
lãi suất cơ bản đối với số tiền thanh toán trước cho công ty An Hợp là 90 triệu đồng, tính
từ ngày công ty chuyển tiền cho đến khi đưa vụ án ra xét xử.
Sau khi nhận được đơn khởi kiện của công ty Trung Thủy, công ty An Hợp đã có
văn bản trình bày như sau: công ty An Hợp không thừa nhận hiệu lực của Phụ lục hợp
đồng số 01, bởi lúc này ông An Minh Cường là người đại diện theo pháp luật của công ty
An Hợp đang đi công tác. Công ty Trung Thủy đã tự ý ký kết Phụ lục hợp đồng với bà
Trần Thị Thủy – trưởng phòng kinh doanh công ty An Hợp, trong khi bà Thủy không
được ông Cường ủy quyền ký kết phụ lục hợp đồng này. Vì vậy, công ty An Hợp không
có nghĩa vụ thực hiện theo thỏa thuận đã xác lập trong Phụ lục hợp đồng số 01. Câu hỏi:
2. Xác định hiệu lực pháp lý của Phụ lục hợp đồng số 01/PL-05/2018/HĐPP ký
ngày 10/10/2018?
3. Xác định tính hợp pháp của yêu cầu được đưa ra bởi công ty Trung Thủy?
4. Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh HN có thẩm quyền thụ lý và giải quyết đơn
khởi kiện của công ty Trung Thủy hay không? Vì sao?
Tình tiết bổ sung: Sau khi hợp đồng số 05 được thực hiện một năm, đến ngày
04/10/2019, do thay đổi chiến lược kinh doanh, công ty An Hợp đã làm văn bản gửi công
ty Trung Thủy yêu cầu chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Công ty Trung Thủy đã yêu
cầu công ty An Hợp phải bồi thường một khoản tiền cho thời gian mình đã phân phối độc
quyền hàng hóa cho công ty An Hợp thì mới đồng ý chấm dứt hợp đồng nhưng công ty
An Hợp không đồng ý. Câu hỏi:
5. Công ty An Hợp có được quyền chấm dứt hợp đồng trước thời hạn hay không?
Xác định tính hợp pháp của yêu cầu đòi bồi thường từ phía công ty Trung Thủy?
LTM2 - N14 (Tác giả: Ths. Trần Trọng Đại)
Ngày 27/6/2016, Công ty cổ phần Sao Biển (bên A – bên giao đại lý) ký hợp đồng
đại lý các bán các sản phẩm mỹ phẩm nhãn hiệu ‘Sao Biển’ với Công ty TNHH Bình
Minh (bên B – bên đại lý). Hợp đồng có một số điều khoản như sau :
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bộ bài tập môn Luật thương mại 2 (Dùng cho các lớp từ kỳ 2 năm học 2020-2021) - Đại học Luật Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bo_bai_tap_mon_luat_thuong_mai_2_dung_cho_cac_lop_tu_ky_2_na.docx

