Giáo trình Mạng máy tính - Nguyễn Hoàng Cương
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
GIÁO TRÌNH
MẠNG MÁY TÍNH
Trang 1
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
Hà nội 11-2000
Trang 2
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
Chương 1
Sơ lược lịch sử phát triển của mạng máy tính
Vào giữa những năm 50 khi những thế hệ máy tính đầu tiên được đưa vào hoạt động
thực tế với những bóng đèn điện tử thì chúng có kích thước rất cồng kềnh và tốn
nhiều năng lượng. Hồi đó việc nhập dữ liệu vào các máy tính được thông qua các tấm
bìa mà người viết chương trình đã đục lỗ sẵn. Mỗi tấm bìa tương đương với một
dòng lệnh mà mỗi một cột của nó có chứa tất cả các ký tự cần thiết mà người viết
chương trình phải đục lỗ vào ký tự mình lựa chọn. Các tấm bìa được đưa vào một
"thiết bị" gọi là thiết bị đọc bìa mà qua đó các thông tin được đưa vào máy tính (hay
còn gọi là trung tâm xử lý) và sau khi tính toán kết quả sẽ được đưa ra máy in. Như
vậy các thiết bị đọc bìa và máy in được thể hiện như các thiết bị vào ra (I/O) đối với
máy tính. Sau một thời gian các thế hệ máy mới được đưa vào hoạt động trong đó một
máy tính trung tâm có thể được nối với nhiều thiết bị vào ra (I/O) mà qua đó nó có thể
thực hiện liên tục hết chương trình này đến chương trình khác.
Cùng với sự phát triển của những ứng dụng trên máy tính các phương pháp nâng cao
khả năng giao tiếp với máy tính trung tâm cũng đã được đầu tư nghiên cứu rất nhiều.
Vào giữa những năm 60 một số nhà chế tạo máy tính đã nghiên cứu thành công những
thiết bị truy cập từ xa tới máy tính của họ. Một trong những phương pháp thâm nhập
từ xa được thực hiện bằng việc cài đặt một thiết bị đầu cuối ở một vị trí cách xa trung
tâm tính toán, thiết bị đầu cuối này được liên kết với trung tâm bằng việc sử dụng
đường dây điện thoại và với hai thiết bị xử lý tín hiệu (thường gọi là Modem) gắn ở
hai đầu và tín hiệu được truyền thay vì trực tiếp thì thông qua dây điện thoại.
Hình 1.1. Mô hình truyền dữ liệu từ xa đầu tiên
Những dạng đầu tiên của thiết bị đầu cuối bao gồm máy đọc bìa, máy in, thiết bị xử lý
tín hiệu, các thiết bị cảm nhận. Việc liên kết từ xa đó có thể thực hiên thông qua
những vùng khác nhau và đó là những dạng đầu tiên của hệ thống mạng.
Trong lúc đưa ra giới thiệu những thiết bị đầu cuối từ xa, các nhà khoa học đã triển
khai một loạt những thiết bị điều khiển, những thiết bị đầu cuối đặc biệt cho phép
người sử dụng nâng cao được khả năng tương tác với máy tính. Một trong những sản
phẩm quan trọng đó là hệ thống thiết bị đầu cuối 3270 của IBM. Hệ thống đó bao
gồm các màn hình, các hệ thống điều khiển, các thiết bị truyền thông được liên kết
với các trung tâm tính toán. Hệ thống 3270 được giới thiệu vào năm 1971 và được sử
dụng dùng để mở rộng khả năng tính toán của trung tâm máy tính tới các vùng xa. Ðể
làm giảm nhiệm vụ truyền thông của máy tính trung tâm và số lượng các liên kết giữa
Trang 3
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
máy tính trung tâm với các thiết bị đầu cuối, IBM và các công ty máy tính khác đã sản
xuất một số các thiết bị sau:
Thiết bị kiểm soát truyền thông: có nhiệm vụ nhận các bit tín hiệu từ các
kênh truyền thông, gom chúng lại thành các byte dữ liệu và chuyển nhóm các
byte đó tới máy tính trung tâm để xử lý, thiết bị này cũng thực hiện công việc
ngược lại để chuyển tín hiệu trả lời của máy tính trung tâm tới các trạm ở xa.
Thiết bị trên cho phép giảm bớt được thời gian xử lý trên máy tính trung tâm và
xây dựng các thiết bị logic đặc trưng.
Thiết bị kiểm soát nhiều đầu cuối: cho phép cùng một lúc kiểm soát nhiều
thiết bị đầu cuối. Máy tính trung tâm chỉ cần liên kết với một thiết bị như vậy
là có thể phục vụ cho tất cả các thiết bị đầu cuối đang được gắn với thiết bị
kiểm soát trên. Ðiều này đặc biệt có ý nghĩa khi thiết bị kiểm soát nằm ở cách
xa máy tính vì chỉ cần sử dụng một đường điện thoại là có thể phục vụ cho
nhiều thiết bị đầu cuối.
Hình 1.2: Mô hình trao đổi mạng của hệ thống 3270
Vào giữa những năm 1970, các thiết bị đầu cuối sử dụng những phương pháp liên kết
qua đường cáp nằm trong một khu vực đã được ra đời. Với những ưu điểm từ nâng
cao tốc độ truyền dữ liệu và qua đó kết hợp được khả năng tính toán của các máy tính
lại với nhau. Ðể thực hiện việc nâng cao khả năng tính toán với nhiều máy tính các
nhà sản xuất bắt đầu xây dựng các mạng phức tạp. Vào những năm 1980 các hệ thống
đường truyền tốc độ cao đã được thiết lập ở Bắc Mỹ và Châu Âu và từ đó cũng xuất
hiện các nhà cung cấp các dịnh vụ truyền thông với những đường truyền có tốc độ cao
hơn nhiều lần so với đường dây điện thoại. Với những chi phí thuê bao chấp nhận
được, người ta có thể sử dụng được các đường truyền này để liên kết máy tính lại với
nhau và bắt đầu hình thành các mạng một cách rộng khắp. Ở đây các nhà cung cấp
dịch vụ đã xây dựng những đường truyền dữ liệu liên kết giữa các thành phố và khu
vực với nhau và sau đó cung cấp các dịch vụ truyền dữ liệu cho những người xây
dựng mạng. Người xây dựng mạng lúc này sẽ không cần xây dựng lại đường truyền
của mình mà chỉ cần sử dụng một phần các năng lực truyền thông của các nhà cung
cấp.
Trang 4
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
Vào năm 1974 công ty IBM đã giới thiệu một loạt các thiết bị đầu cuối được chế tạo
cho lĩnh vực ngân hàng và thương mại, thông qua các dây cáp mạng các thiết bị đầu
cuối có thể truy cập cùng một lúc vào một máy tính dùng chung. Với việc liên kết các
máy tính nằm ở trong một khu vực nhỏ như một tòa nhà hay là một khu nhà thì tiền chi
phí cho các thiết bị và phần mềm là thấp. Từ đó việc nghiên cứu khả năng sử dụng
chung môi trường truyền thông và các tài nguyên của các máy tính nhanh chóng được
đầu tư.
Vào năm 1977, công ty Datapoint Corporation đã bắt đầu bán hệ điều hành mạng của
mình là "Attached Resource Computer Network" (hay gọi tắt là Arcnet) ra thị trường.
Mạng Arcnet cho phép liên kết các máy tính và các trạm đầu cuối lại bằng dây cáp
mạng, qua đó đã trở thành là hệ điều hành mạng cục bộ đầu tiên.
Từ đó đến nay đã có rất nhiều công ty đưa ra các sản phẩm của mình, đặc biệt khi các
máy tính cá nhân được sử dụng một cánh rộng rãi. Khi số lượng máy vi tính trong một
văn phòng hay cơ quan được tăng lên nhanh chóng thì việc kết nối chúng trở nên vô
cùng cần thiết và sẽ mang lại nhiều hiệu quả cho người sử dụng.
Ngày nay với một lượng lớn về thông tin, nhu cầu xử lý thông tin ngày càng cao.
Mạng máy tính hiện nay trở nên quá quen thuộc đối với chúng ta, trong mọi lĩnh vực
như khoa học, quân sự, quốc phòng, thương mại, dịch vụ, giáo dục... Hiện nay ở
nhiều nơi mạng đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được. Người ta thấy được
việc kết nối các máy tính thành mạng cho chúng ta những khả năng mới to lớn như:
Sử dụng chung tài nguyên: Những tài nguyên của mạng (như thiết bị,
chương trình, dữ liệu) khi được trở thành các tài nguyên chung thì mọi thành
viên của mạng đều có thể tiếp cận được mà không quan tâm tới những tài
nguyên đó ở đâu.
Tăng độ tin cậy của hệ thống: Người ta có thể dễ dàng bảo trì máy móc và
lưu trữ (backup) các dữ liệu chung và khi có trục trặc trong hệ thống thì chúng
có thể được khôi phục nhanh chóng. Trong trường hợp có trục trặc trên một
trạm làm việc thì người ta cũng có thể sử dụng những trạm khác thay thế.
Nâng cao chất lượng và hiệu quả khai thác thông tin: Khi thông tin có thể
được sữ dụng chung thì nó mang lại cho người sử dụng khả năng tổ chức lại
các công việc với những thay đổi về chất như:
Ðáp ứng những nhu cầu của hệ thống ứng dụng kinh doanh hiện đại.
Cung cấp sự thống nhất giữa các dữ liệu.
Tăng cường năng lực xử lý nhờ kết hợp các bộ phận phân tán.
Tăng cường truy nhập tới các dịch vụ mạng khác nhau đang được cung
cấp trên thế giới.
Trang 5
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
Với nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội nên vấn đề kỹ thuật trong mạng là mối
quan tâm hàng đầu của các nhà tin học. Ví dụ như làm thế nào để truy xuất thông tin
một cách nhanh chóng và tối ưu nhất, trong khi việc xử lý thông tin trên mạng quá
nhiều đôi khi có thể làm tắc nghẽn trên mạng và gây ra mất thông tin một cách đáng
tiếc.
Hiện nay việc làm sao có được một hệ thống mạng chạy thật tốt, thật an toàn với lợi
ích kinh tế cao đang rất được quan tâm. Một vấn đề đặt ra có rất nhiều giải pháp về
công nghệ, một giải pháp có rất nhiều yếu tố cấu thành, trong mỗi yếu tố có nhiều
cách lựa chọn. Như vậy để đưa ra một giải pháp hoàn chỉnh, phù hợp thì phải trải qua
một quá trình chọn lọc dựa trên những ưu điểm của từng yếu tố, từng chi tiết rất nhỏ.
Ðể giải quyết một vấn đề phải dựa trên những yêu cầu đặt ra và dựa trên công nghệ
để giải quyết. Nhưng công nghệ cao nhất chưa chắc là công nghệ tốt nhất, mà công
nghệ tốt nhất là công nghệ phù hợp nhất.
Trang 6
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
Chương 2
Những khái niệm cơ bản của mạng máy tính
Với sự phát triển của khoa học và kỹ thuật, hiện nay các mạng máy tính đã phát triển
một cách nhanh chóng và đa dạng cả về quy mô, hệ điều hành và ứng dụng. Do vậy
việc nghiên cứu chúng ngày càng trở nên phức tạp. Tuy nhiên các mạng máy tính cũng
có cùng các điểm chung thông qua đó chúng ta có thể đánh giá và phân loại chúng.
I. Định nghĩa mạng máy tính
Mạng máy tính là một tập hợp các máy tính được nối với nhau bởi đường
truyền theo một cấu trúc nào đó và thông qua đó các máy tính trao đổi thông tin
qua lại cho nhau.
Đường truyền là hệ thống các thiết bị truyền dẫn có dây hay không dây dùng để
chuyển các tín hiệu điện tử từ máy tính này đến máy tính khác. Các tín hiệu điện tử đó
biểu thị các giá trị dữ liệu dưới dạng các xung nhị phân (on - off). Tất cả các tín hiệu
được truyền giữa các máy tính đều thuộc một dạng sóng điện từ. Tùy theo tần số của
sóng điện từ có thể dùng các đường truyền vật lý khác nhau để truyền các tín hiệu. Ở
đây đường truyền được kết nối có thể là dây cáp đồng trục, cáp xoắn, cáp quang, dây
điện thoại, sóng vô tuyến ... Các đường truyền dữ liệu tạo nên cấu trúc của mạng. Hai
khái niệm đường truyền và cấu trúc là những đặc trưng cơ bản của mạng máy tính.
Hình 2.1: Một mô hình liên kết các máy tính trong mạng
Trang 7
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
Với sự trao đổi qua lại giữa máy tính này với máy tính khác đã phân biệt mạng
máy tính với các hệ thống thu phát một chiều như truyền hình, phát thông tin từ vệ
tinh xuống các trạm thu thụ động... vì tại đây chỉ có thông tin một chiều từ nơi phát
đến nơi thu mà không quan tâm đến có bao nhiêu nơi thu, có thu tốt hay không.
Đặc trưng cơ bản của đường truyền vật lý là giải thông. Giải thông của một
đường chuyền chính là độ đo phạm vi tần số mà nó có thể đáp ứng được. Tốc độ
truyền dữ liệu trên đường truyền còn được gọi là thông lượng của đường truyền -
thường được tính bằng số lượng bit được truyền đi trong một giây (Bps). Thông
lượng còn được đo bằng đơn vị khác là Baud (lấy từ tên nhà bác học - Emile Baudot).
Baud biểu thị số lượng thay đổi tín hiệu trong một giây.
Ở đây Baud và Bps không phải bao giờ cũng đồng nhất. Ví dụ: nếu trên đường
dây có 8 mức tín hiệu khác nhau thì mỗi mức tín hiệu tương ứng với 3 bit hay là 1
Baud tương ứng với 3 bit. Chỉ khi có 2 mức tín hiệu trong đó mỗi mức tín hiệu tương
ứng với 1 bit thì 1 Baud mới tương ứng với 1 bit.
II. Phân loại mạng máy tính
Do hiện nay mạng máy tính được phát triển khắp nơi với những ứng dụng ngày
càng đa dạng cho nên việc phân loại mạng máy tính là một việc rất phức tạp. Người
ta có thể chia các mạng máy tính theo khoảng cách địa lý ra làm hai loại: Mạng diện
rộng và Mạng cục bộ.
Mạng cục bộ (Local Area Networks - LAN) là mạng được thiết lập để liên
kết các máy tính trong một khu vực như trong một toà nhà, một khu nhà.
Mạng diện rộng (Wide Area Networks - WAN) là mạng được thiết lập để
liên kết các máy tính của hai hay nhiều khu vực khác nhau như giữa các thành
phố hay các tỉnh.
Sự phân biệt trên chỉ có tính chất ước lệ, các phân biệt trên càng trở nên khó xác
định với việc phát triển của khoa học và kỹ thuật cũng như các phương tiện truyền
dẫn. Tuy nhiên với sự phân biệt trên phương diện địa lý đã đưa tới việc phân biệt
trong nhiều đặc tính khác nhau của hai loại mạng trên, việc nghiên cứu các phân biệt
đó cho ta hiểu rõ hơn về các loại mạng.
III. Sự phân biệt giữa mạng cục bộ và mạng diện rộng
Mạng cục bộ và mạng diện rộng có thể được phân biệt bởi: địa phương hoạt
động, tốc độ đường truyền và tỷ lệ lỗi trên đường truyền, chủ quản của mạng,
đường đi của thông tin trên mạng, dạng chuyển giao thông tin.
Địa phương hoạt động: Liên quan đến khu vực địa lý thì mạng cục bộ sẽ là
mạng liên kết các máy tính nằm ở trong một khu vực nhỏ. Khu vực có thể bao gồm
một tòa nhà hay là một khu nhà... Điều đó hạn chế bởi khoảng cách đường dây cáp
Trang 8
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
được dùng để liên kết các máy tính của mạng cục bộ (Hạn chế đó còn là hạn chế của
khả năng kỹ thuật của đường truyền dữ liệu). Ngược lại mạng diện rộng là mạng có
khả năng liên kết các máy tính trong một vùng rộng lớn như là một thành phố, một
miền, một đất nước, mạng diện rộng được xây dựng để nối hai hoặc nhiều khu vực
địa lý riêng biệt.
Tốc độ đường truyền và tỷ lệ lỗi trên đường truyền: Do các đường cáp của
mạng cục bộ đươc xây dựng trong một khu vực nhỏ cho nên nó ít bị ảnh hưởng bởi
tác động của thiên nhiên (như là sấm chớp, ánh sáng...). Điều đó cho phép mạng cục
bộ có thể truyền dữ liệu với tốc độ cao mà chỉ chịu một tỷ lệ lỗi nhỏ. Ngược lại với
mạng diện rộng do phải truyền ở những khoảng cách khá xa với những đường truyền
dẫn dài có khi lên tới hàng ngàn km. Do vậy mạng diện rộng không thể truyền với tốc
độ quá cao vì khi đó tỉ lệ lỗi sẽ trở nên khó chấp nhận được.
Mạng cục bộ thường có tốc độ truyền dữ liệu từ 4 đến 16 Mbps và đạt tới 100
Mbps nếu dùng cáp quang. Còn phần lớn các mạng diện rộng cung cấp đường truyền
có tốc độ thấp hơn nhiều như T1 với 1.544 Mbps hay E1 với 2.048 Mbps.
(Ở đây bps (Bit Per Second) là một đơn vị trong truyền thông tương đương với 1
bit được truyền trong một giây, ví dụ như tốc độ đường truyền là 1 Mbps tức là có thể
truyền tối đa 1 Megabit trong 1 giây trên đường truyền đó).
Thông thường trong mạng cục bộ tỷ lệ lỗi trong truyền dữ liệu vào khoảng
1/107-108 còn trong mạng diện rộng thì tỷ lệ đó vào khoảng 1/106 - 107
Chủ quản và điều hành của mạng: Do sự phức tạp trong việc xây dựng, quản
lý, duy trì các đường truyền dẫn nên khi xây dựng mạng diện rộng người ta thường sử
dụng các đường truyền được thuê từ các công ty viễn thông hay các nhà cung cấp dịch
vụ truyền số liệu. Tùy theo cấu trúc của mạng những đường truyền đó thuộc cơ quan
quản lý khác nhau như các nhà cung cấp đường truyền nội hạt, liên tỉnh, liên quốc gia.
Các đường truyền đó phải tuân thủ các quy định của chính phủ các khu vực có đường
dây đi qua như: tốc độ, việc mã hóa.
Còn đối với mạng cục bộ thì công việc đơn giản hơn nhiều, khi một cơ quan cài
đặt mạng cục bộ thì toàn bộ mạng sẽ thuộc quyền quản lý của cơ quan đó.
Đường đi của thông tin trên mạng: Trong mạng cục bộ thông tin được đi theo
con đường xác định bởi cấu trúc của mạng. Khi người ta xác định cấu trúc của mạng
thì thông tin sẽ luôn luôn đi theo cấu trúc đã xác định đó. Còn với mạng diện rộng dữ
liệu cấu trúc có thể phức tạp hơn nhiều do việc sử dụng các dịch vụ truyền dữ liệu.
Trong quá trình hoạt động các điểm nút có thể thay đổi đường đi của các thông tin khi
phát hiện ra có trục trặc trên đường truyền hay khi phát hiện có quá nhiều thông tin
cần truyền giữa hai điểm nút nào đó. Trên mạng diện rộng thông tin có thể có các con
đường đi khác nhau, điều đó cho phép có thể sử dụng tối đa các năng lực của đường
truyền hay nâng cao điều kiện an toàn trong truyền dữ liệu.
Trang 9
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
Dạng chuyển giao thông tin: Phần lớn các mạng diện rộng hiện nay được phát
triển cho việc truyền đồng thời trên đường truyền nhiều dạng thông tin khác nhau
như: video, tiếng nói, dữ liệu... Trong khi đó các mạng cục bộ chủ yếu phát triển trong
việc truyền dữ liệu thông thường. Điều này có thể giải thích do việc truyền các dạng
thông tin như video, tiếng nói trong một khu vực nhỏ ít được quan tâm hơn như khi
truyền qua những khoảng cách lớn.
Các hệ thống mạng hiện nay ngày càng phức tạp về chất lượng, đa dạng về
chủng loại và phát triển rất nhanh về chất. Trong sự phát triển đó số lượng những nhà
sản xuất từ phần mềm, phần cứng máy tính, các sản phẩm viễn thông cũng tăng
nhanh với nhiều sản phẩm đa dạng. Chính vì vậy vai trò chuẩn hóa cũng mang những
ý nghĩa quan trọng. Tại các nước các cơ quan chuẩn quốc gia đã đưa ra các những
chuẩn về phần cứng và các quy định về giao tiếp nhằm giúp cho các nhà sản xuất có
thể làm ra các sản phẩm có thể kết nối với các sản phẩm do hãng khác sản xuất.
Trang 10
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
Chương 3
Mô hình truyền thông
I. Sự cần thiết phải có mô hình truyền thông
Để một mạng máy tính trở một môi trường truyền dữ liệu thì nó cần phải có những
yếu tố sau:
Mỗi máy tính cần phải có một địa chỉ phân biệt trên mạng.
Việc chuyển dữ liệu từ máy tính này đến máy tính khác do mạng thực hiện
thông qua những quy định thống nhất gọi là giao thức của mạng.
Khi các máy tính trao đổi dữ liệu với nhau thì một quá trình truyền giao dữ liệu đã
được thực hiện hoàn chỉnh. Ví dụ như để thực hiện việc truyền một file giữa một
máy tính với một máy tính khác cùng được gắn trên một mạng các công việc sau đây
phải được thực hiện:
Máy tính cần truyền cần biết địa chỉ của máy nhận.
Máy tính cần truyền phải xác định được máy tính nhận đã saün sàng nhận
thông tin
Chương trình gửi file trên máy truyền cần xác định được rằng chương trình
nhận file trên máy nhận đã saün sàng tiếp nhận file.
Nếu cấu trúc file trên hai máy không giống nhau thì một máy phải làm nhiệm
vụ chuyển đổi file từ dạng này sang dạng kia.
Khi truyền file máy tính truyền cần thông báo cho mạng biết địa chỉ của máy
nhận để các thông tin được mạng đưa tới đích.
Điều trên đó cho thấy giữa hai máy tính đã có một sự phối hợp hoạt động ở mức độ
cao. Bây giờ thay vì chúng ta xét cả quá trình trên như là một quá trình chung thì chúng
ta sẽ chia quá trình trên ra thành một số công đoạn và mỗi công đoạn con hoạt động
một cách độc lập với nhau. Ở đây chương trình truyền nhận file của mỗi máy tính
được chia thành ba module là: Module truyền và nhận File, Module truyền thông và
Module tiếp cận mạng. Hai module tương ứng sẽ thực hiện việc trao đổi với nhau
trong đó:
Module truyền và nhận file cần được thực hiện tất cả các nhiệm vụ trong các
ứng dụng truyền nhận file. Ví dụ: truyền nhận thông số về file, truyền nhận
Trang 11
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
các mẫu tin của file, thực hiện chuyển đổi file sang các dạng khác nhau nếu
cần. Module truyền và nhận file không cần thiết phải trực tiếp quan tâm tới
việc truyền dữ liệu trên mạng như thế nào mà nhiệm vụ đó được giao cho
Module truyền thông.
Module truyền thông quan tâm tới việc các máy tính đang hoạt động và saün
sàng trao đổi thông tin với nhau. Nó còn kiểm soát các dữ liệu sao cho những
dữ liệu này có thể trao đổi một cách chính xác và an toàn giữa hai máy tính.
Điều đó có nghĩa là phải truyền file trên nguyên tắc đảm bảo an toàn cho dữ
liệu, tuy nhiên ở đây có thể có một vài mức độ an toàn khác nhau được dành
cho từng ứng dụng. Ở đây việc trao đổi dữ liệu giữa hai máy tính không phụ
thuộc vào bản chất của mạng đang liên kết chúng. Những yêu cầu liên quan
đến mạng đã được thực hiện ở module thứ ba là module tiếp cận mạng và nếu
mạng thay đổi thì chỉ có module tiếp cận mạng bị ảnh hưởng.
Module tiếp cận mạng được xây dựng liên quan đến các quy cách giao tiếp
với mạng và phụ thuộc vào bản chất của mạng. Nó đảm bảo việc truyền dữ
liệu từ máy tính này đến máy tính khác trong mạng.
Như vậy thay vì xét cả quá trình truyền file với nhiều yêu cầu khác nhau như một tiến
trình phức tạp thì chúng ta có thể xét quá trình đó với nhiều tiến trình con phân biệt
dựa trên việc trao đổi giữa các Module tương ứng trong chương trình truyền file. Cách
này cho phép chúng ta phân tích kỹ quá trình file và dễ dàng trong việc viết chương
trình.
Việc xét các module một cách độc lập với nhau như vậy cho phép giảm độ phức tạp
cho việc thiết kế và cài đặt. Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong việc xây
dựng mạng và các chương trình truyền thông và được gọi là phương pháp phân tầng
(layer).
Nguyên tắc của phương pháp phân tầng là:
Mỗi hệ thống thành phần trong mạng được xây dựng như một cấu trúc nhiều
tầng và đều có cấu trúc giống nhau như: số lượng tầng và chức năng của mỗi
tầng.
Các tầng nằm chồng lên nhau, dữ liệu được chỉ trao đổi trực tiếp giữa hai
tầng kề nhau từ tầng trên xuống tầng dưới và ngược lại.
Cùng với việc xác định chức năng của mỗi tầng chúng ta phải xác định mối
quan hệ giữa hai tầng kề nhau. Dữ liệu được truyền đi từ tầng cao nhất của
hệ thống truyền lần lượt đến tầng thấp nhất sau đó truyền qua đường nối vật
lý dưới dạng các bit tới tầng thấp nhất của hệ thống nhận, sau đó dữ liệu
được truyền ngược lên lần lượt đến tầng cao nhất của hệ thống nhận.
Trang 12
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
Chỉ có hai tầng thấp nhất có liên kết vật lý với nhau còn các tầng trên cùng
thứ tư chỉ có các liên kết logic với nhau. Liên kết logic của một tầng được thực
hiện thông qua các tầng dưới và phải tuân theo những quy định chặt chẽ, các
quy định đó được gọi giao thức của tầng.
Hình 3.1: Mô hình phân tầng gồm N tầng
II. Mô hình truyền thông đơn giản 3 tầng
Nói chung trong truyền thông có sự tham gia của các thành phần: các chương trình ứng
dụng, các chương trình truyền thông, các máy tính và các mạng. Các chương trình ứng
dụng là các chương trình của người sử dụng được thực hiện trên máy tính và có thể
tham gia vào quá trình trao đổi thông tin giữa hai máy tính. Trên một máy tính với hệ
điều hành đa nhiệm (như Windows, UNIX) thường được thực hiện đồng thời nhiều
ứng dụng trong đó có những ứng dụng liên quan đến mạng và các ứng dụng khác. Các
máy tính được nối với mạng và các dữ liệu được trao đổi thông qua mạng từ máy tính
này đến máy tính khác.
Việc gửi dữ liệu được thực hiện giữa một ứng dụng với một ứng dụng khác trên hai
máy tính khác nhau thông qua mạng được thực hiện như sau: Ứng dụng gửi chuyển dữ
liệu cho chương trình truyền thông trên máy tính của nó, chương trình truyền thông sẽ
gửi chúng tới máy tính nhận. Chương trình truyền thông trên máy nhận sẽ tiếp nhận
dữ liệu, kiểm tra nó trước khi chuyển giao cho ứng dụng đang chờ dữ liệu.
Với mô hình truyền thông đơn giản người ta chia chương trình truyền thông thành ba
tầng không phụ thuộc vào nhau là: tầng ứng dụng, tầng chuyển vận và tầng tiếp cận
mạng.
Tầng tiếp cận mạng liên quan tới việc trao đổi dữ liệu giữa máy tính và
mạng mà nó được nối vào. Để dữ liệu đến được đích máy tính gửi cần phải
chuyển địa chỉ của máy tính nhận cho mạng và qua đó mạng sẽ chuyển các
thông tin tới đích. Ngoài ra máy gửi có thể sử dụng một số phục vụ khác nhau
mà mạng cung cấp như gửi ưu tiên, tốc độ cao. Trong tầng này có thể có nhiều
Trang 13
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
phần mềm khác nhau được sử dụng phụ thuộc vào các loại của mạng ví dụ
như mạng chuyển mạch, mạng chuyển mạch gói, mạng cục bộ.
Tầng truyền dữ liệu thực hiện quá trình truyền thông không liên quan tới
mạng và nằm ở trên tầng tiếp cận mạng. Tầng truyền dữ liệu không quan tâm
tới bản chất các ứng dụng đang trao đổi dữ liệu mà quan tâm tới làm sao cho
các dữ liệu được trao đổi một cách an toàn. Tầng truyền dữ liệu đảm bảo các
dữ liệu đến được đích và đến theo đúng thứ tự mà chúng được xử lý. Trong
tầng truyền dữ liệu người ta phải có những cơ chế nhằm đảm bảo sự chính
xác đó và rõ ràng các cơ chế này không phụ thuộc vào bản chất của từng ứng
dụng và chúng sẽ phục vụ cho tất cả các ứng dụng.
Tầng ứng dụng sẽ chứa các module phục vụ cho tất cả những ứng dụng của
người sử dụng. Với các loại ứng dụng khác nhau (như là truyền file, truyền
thư mục) cần các module khác nhau.
Hình 3.2 Mô hình truyền thông 3 tầng
Trong một mạng với nhiều máy tính, mỗi máy tính một hay nhiều ứng dụng thực hiện
đồng thời (Tại đây ta xét trên một máy tính trong một thời điểm có thể chạy nhiều
ứng dụng và các ứng dụng đó có thể thực hiện đồng thời việc truyền dữ liệu qua
mạng). Một ứng dụng khi cần truyền dữ liệu qua mạng cho một ứng dụng khác cần
phải gọi 1 module tầng ứng dụng của chương trình truyền thông trên máy của mình,
đồng thời ứng dụng kia cũng sẽ gọi 1 module tầng ứng dụng trên máy của nó. Hai
module ứng dụng sẽ liên kết với nhau nhằm thực hiện các yêu cầu của các chương
trình ứng dụng.
Các ứng dụng đó sẽ trao đổi với nhau thông qua mạng, tuy nhiên trong 1 thời điểm trên
một máy có thể có nhiều ứng dụng cùng hoạt động và để việc truyền thông được
chính xác thì các ứng dụng trên một máy cần phải có một địa chỉ riêng biệt. Rõ ràng
cần có hai lớp địa chỉ:
Mỗi máy tính trên mạng cần có một địa chỉ mạng của mình, hai máy tính
trong cùng một mạng không thể có cùng địa chỉ, điều đó cho phép mạng có thể
truyền thông tin đến từng máy tính một cách chính xác.
Trang 14
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
Mỗi một ứng dụng trên một máy tính cần phải có địa chỉ phân biệt trong máy
tính đo. Nó cho phép tầng truyền dữ liệu giao dữ liệu cho đúng ứng dụng đang
cần. Địa chỉ đó được gọi là điểm tiếp cận giao dịch. Điều đó cho thấy mỗi một
ứng dụng sẽ tiếp cận các phục vụ của tầng truyền dữ liệu một cách độc lập.
Các module cùng một tầng trên hai máy tính khác nhau sẽ trao đổi với nhau
một cách chặt chẽ theo các qui tắc xác định trước được gọi là giao thức. Một
giao thức được thể hiện một cách chi tiết bởi các chức năng cần phải thực
hiện như các giá trị kiểm tra lỗi, việc định dạng các dữ liệu, các quy trình cần
phải thực hiện để trao đổi thông tin.
Hình 3.3 Ví dụ mô hình truyền thông đơn giản
Chúng ta hãy xét trong ví dụ (như hình vẽ trên): giả sử có ứng dụng có điểm tiếp cận
giao dịch 1 trên máy tính A muốn gửi thông tin cho một ứng dụng khác trên máy tính B
có điểm tiếp cận giao dịch 2. Úng dụng trên máy tính A chuyển các thông tin xuống
tầng truyền dữ liệu của A với yêu cầu gửi chúng cho điểm tiếp cận giao dịch 2 trên
máy tính B. Tầng truyền dữ liệu máy A sẽ chuyển các thông tin xuống tầng tiếp cận
mạng máy A với yêu cầu chuyển chúng cho máy tính B (Chú ý rằng mạng không cần
biết địa chỉ của điểm tiếp cận giao dịch mà chỉ cần biết địa chỉ của máy tính B). Để
thực hiện quá trình này, các thông tin kiểm soát cũng sẽ được truyền cùng với dữ liệu.
Đầu tiên khi ứng dụng 1 trên máy A cần gửi một khối dữ liệu nó chuyển khối đó cho
tầng vận chuyển. Tầng vận chuyển có thể chia khối đó ra thành nhiều khối nhỏ phụ
Trang 15
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
thuộc vào yêu cầu của giao thức của tầng và đóng gói chúng thành các gói tin (packet).
Mỗi một gói tin sẽ được bổ sung thêm các thông tin kiểm soát của giao thức và được
gọi là phần đầu (Header) của gói tin. Thông thường phần đầu của gói tin cần có:
Địa chỉ của điểm tiếp cận giao dịch nơi đến (Ở đây là 3): khi tầng vận
chuyển của máy B nhận được gói tin thì nó biết được ứng dụng nào mà nó cần
giao.
Số thứ tự của gói tin, khi tầng vận chuyển chia một khối dữ liệu ra thành
nhiều gói tin thì nó cần phải đánh số thứ tự các gói tin đó. Nếu chúng đi đến
đích nếu sai thứ tự thì tầng vận chuyển của máy nhận có thể phát hiện và
chỉnh lại thứ tự. Ngoài ra nếu có lỗi trên đường truyền thì tầng vận chuyển
của máy nhận sẽ phát hiện ra và yêu cầu gửi lại một cách chính xác.
Mã sửa lỗi: để đảm bảo các dữ liệu được nhận một cách chính xác thì trên
cơ sở các dữ liệu của gói tin tầng vận chuyển sẽ tính ra một giá trị theo một
công thức có sãn và gửi nó đi trong phần đầu của gói tin. Tầng vận chuyển nơi
nhận thông qua giá trị đó xác định được gói tin đó có bị lỗi trên đường truyền
hay không.
Bước tiếp theo tầng vận chuyển máy A sẽ chuyển từng gói tin và địa chỉ của máy tính
đích (ở đây là B) xuống tầng tiếp cận mạng với yêu cầu chuyển chúng đi. Để thực
hiện được yêu cầu này tầng tiếp cận mạng cũng tạo các gói tin của mình trước khi
truyền qua mạng. Tại đây giao thức của tầng tiếp cận mạng sẽ thêm các thông tin
điều khiển vào phần đầu của gói tin mạng.
Hình 3.4: Mô hình thiết lập gói tin
Trong phần đầu gói tin mạng sẽ bao gồm địa chỉ của máy tính nhận, dựa trên địa chỉ
này mạng truyền gói tin tới đích. Ngoài ra có thể có những thông số như là mức độ ưu
tiên.
Trang 16
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
Như vậy thông qua mô hình truyền thông đơn giản chúng ta cũng có thể thấy được
phương thức hoạt động của các máy tính trên mạng, có thể xây dựng và thay đổi các
giao thức trong cùng một tầng.
III. Các nhu cầu về chuẩn hóa đối với mạng
Trong phần trên chúng ta đã xem xét một mô hình truyền thông đơn giản, trong thực tế
việc phân chia các tầng như trong mô hình trên thực sự chưa đủ. Trên thế giới hiện có
một số cơ quan định chuẩn, họ đưa ra hàng loạt chuẩn về mạng tuy các chuẩn đó có
tính chất khuyến nghị chứ không bắt buộc nhưng chúng rất được các cơ quan chuẩn
quốc gia coi trọng.
Hai trong số các cơ quan chuẩn quốc tế là:
ISO (The International Standards Organization) - Là tổ chức tiêu chuẩn
quốc tế hoạt động dưới sự bảo trợ của Liên hợp Quốc với thành viên là các cơ
quan chuẩn quốc gia với số lượng khoảng hơn 100 thành viên với mục đích hỗ
trợ sự phát triển các chuẩn trên phạm vi toàn thế giới. Một trong những thành
tựu của ISO trong lãnh vực truyền thông là mô hình hệ thống mở (Open
Systems Interconnection - gọi tắt là OSI).
CCITT (Commité Consultatif International pour le Telegraphe et la
Téléphone) - Tổ chức tư vấn quốc tế về điện tín và điện thoại làm việc dưới
sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc có trụ sở chính tại Geneva - Thụy sỹ. Các
thành viên chủ yếu là các cơ quan bưu chính viễn thông các quốc gia. Tổ chức
này có vai trò phát triển các khuyến nghị trong các lãnh vực viễn thông.
IV. Một số mô hình chuẩn hóa
1. Mô hình OSI (Open Systems Interconnection)
Mô hình OSI là một cơ sở dành cho việc chuẩn hoá các hệ thống truyền thông, nó
được nghiên cứu và xây dựng bởi ISO. Việc nghiên cứu về mô hình OSI được bắt đầu
tại ISO vào năm 1971 với mục tiêu nhằm tới việc nối kết các sản phẩm của các hãng
sản xuất khác nhau và phối hợp các hoạt động chuẩn hoá trong các lĩnh vực viễn thông
và hệ thống thông tin. Theo mô hình OSI chương trình truyền thông được chia ra thành
7 tầng với những chức năng phân biệt cho từng tầng. Hai tầng đồng mức khi liên kết
với nhau phải sử dụng một giao thức chung. Trong mô hình OSI có hai loại giao thức
chính được áp dụng: giao thức có liên kết (connection - oriented) và giao thức không
liên kết (connectionless)
Giao thức có liên kết: trước khi truyền dữ liệu hai tầng đồng mức cần thiết
lập một liên kết logic và các gói tin được trao đổi thông qua liên kết náy, việc
có liên kết logic sẽ nâng cao độ an toàn trong truyền dữ liệu.
Trang 17
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
Giao thức không liên kết: trước khi truyền dữ liệu không thiết lập liên kết
logic và mỗi gói tin được truyền độc lập với các gói tin trước hoặc sau nó.
Nhiệm vụ của các tầng trong mô hình OSI:
Tầng ứng dụng (Application layer): tầng ứng dụng quy định giao diện giữa
người sử dụng và môi trường OSI, nó cung cấp các phương tiện cho người sử
dụng truy cập vả sử dụng các dịch vụ củ mô hình OSI.
Tầng trình bày (Presentation layer): tầng trình bày chuyển đổi các thông tin
từ cú pháp người sử dụng sang cú pháp để truyền dữ liệu, ngoài ra nó có thể
nén dữ liệu truyền và mã hóa chúng trước khi truyền đễ bảo mật.
Tầng giao dịch (Session layer): tầng giao dịch quy định một giao diện ứng
dụng cho tầng vận chuyển sử dụng. Nó xác lập ánh xa giữa các tên đặt địa chỉ,
tạo ra các tiếp xúc ban đầu giữa các máy tính khác nhau trên cơ sở các giao dịch
truyền thông. Nó đặt tên nhất quán cho mọi thành phần muốn đối thoại riêng
với nhau.
Tầng vận chuyển (Transport layer): tầng vận chuyển xác định địa chỉ trên
mạng, cách thức chuyển giao gói tin trên cơ sở trực tiếp giữa hai đầu mút (end-
to-end). Để bảo đảm được việc truyền ổn định trên mạng tầng vận chuyển
thường đánh số các gói tin và đảm bảo chúng chuyển theo thứ tự.
Hình 3.5: Mô hình 7 tầng OSI
Tầng mạng (Network layer): tầng mạng có nhiệm vụ xác định việc chuyển
hướng, vạch đường các gói tin trong mạng, các gói tin này có thể phải đi qua
nhiều chặng trước khi đến được đích cuối cùng.
Tầng liên kết dữ liệu (Data link layer): tầng liên kết dữ liệu có nhiệm vụ
xác định cơ chế truy nhập thông tin trên mạng, các dạng thức chung trong các
gói tin, đóng các gói tin...
Trang 18
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
Tầng vật lý (Phisical layer): tầng vật lý cung cấp phương thức truy cập vào
đường truyền vật lý để truyền các dòng Bit không cấu trúc, ngoài ra nó cung
cấp các chuẩn về điện, dây cáp, đầu nối, kỹ thuật nối mạch điện, điện áp, tốc
độ cáp truyền dẫn, giao diện nối kết và các mức nối kết..
2. Mô hình SNA (Systems Netword Architecture)
Tháng 9/1973, Hãng IBM giới thiệu một kiến trúc mạng máy tính SNA (System
Network Architecture). Đến năm 1977 đã có 300 trạm SNA được cài đặt. Cuối năm
1978, số lượng đã tăng lên đến 1250, rồi cứ theo đà đó cho đến nayđã có 20.000 trạm
SNA đang được hoạt động. Qua con số này chúng ta có thể hình dung được mức độ
quan trọng và tầm ảnh hưởng của SNA trên toàn thế giới.
Cần lưu ý rằng SNA không là một chuẩn quốc tế chính thức như OSI nhưng do vai trò
to lớn của hãng IBM trên thị trường CNTT nên SNA trở thành một loại chuẩn thực tế
và khá phổ biến. SNA là một đặc tả gồm rất nhiều tài liệu mô tả kiến trúc của mạng
xử lý dữ liệu phân tán. Nó định nghĩa các quy tắc và các giao thức cho sự tương tác
giữa các thành phần (máy tính, trạm cuối, phần mềm) trong mạng.
SNA được tổ chức xung quanh khái niệm miền (domain). Một SNA domain là một
điểm điều khiển các dịch vụ hệ thống (Systems Services control point - SSCP) và nó
sẽ điều khiển tất cả các tài nguyên đó, Các tài nguyên ở đây có thể là các đơn vị vật
lý, các đơn vị logic, các liên kết dữ liệu và các thiết bị. Có thể ví SSCP như là "trái tim
và khối óc" của SNA. Nó điều khiển SNA domain bằng cách gói các lệnh tới một đơn
vị vật lý, đơn vị vật lý này sau khi nhận được lệnh sẽ quản lý tất cả các tài nguyên
trực tiếp với nó. đơn vị vật lý thực sự là một "đối tác" của SSCP và chứa một tập con
các khả năng của SSCP. Các Đơn vị vật lý đảm nhiệm việc quản lý của mỗi nút SNA.
SNA phân biệt giữa các nút miền con (Subarea node) và các nút ngoại vi (peripheral
node).
Một nút miền con có thể dẫn đường cho dữ liệu của người sử dụng qua toàn
bộ mạng. Nó dùng địa chỉ mạng và một số hiệu đường (router suember) để xác
định đường truyền đi tới nút kế tiếp trong mạng.
Một nút ngoại vi có tính cục bộ hơn. Nó không dẫn đường giữa các nút miền
con. Các nút được nối và điều khiển theo giao thức SDLC (Synchronous Data
Link Control). Mỗi nút ngoại vi chỉ liên lạc được với nút miền con mà nó nối
vào.
Mạng SNA dựa trên cơ chế phân tầng, trước đây thì 2 hệ thống ngang hàng không
được trao đổi trực tiếp. Sau này phát triển thành SNA mở rộng: Lúc này hai tầng
ngang hàng nhau có thể trao đổi trực tiếp. Với 6 tầng có tên gọi và chức năng tất như
sau:
Trang 19
Vietebooks
Nguyễn Hoàng Cương
Tầng quản trị chức năng SNA (SNA Function Manegement) Tầng này thật
ra có thể chia tầng này làm hai tầng như sau:
Tầng dịch vụ giao tác (Transaction) cung cấp các dịch vụ ứng dụng đến
người dùng một mạng SNA. Những dịch vụ đó như : DIA cung cấp các tài liệu
phân bố giũa các hệ thống văn phòng, SNA DS (văn phòng dịch vụ phân phối)
cho việc truyền thông bất đồng bộ giữa các ứng dụng phân tán và hệ thống văn
phòng. Tầng dịch vụ giao tác cũng cung cấp các dịch vụ và cấu hình, các dịch
vụ quản lý để điều khiển các hoạt động mạng.
Tầng dịch vụ trình diễn (Presentation Services): tầng này thì liên quan với
sự hiển thị các ứng dụng, người sử dụng đầu cuối và các dữ liệu hệ thống.
Tầng này cũng định nghĩa các giao thức cho việc truyền thông giữa các chương
trình và điều khiển truyền thông ở mức hội thoại.
Tầng kiểm soát luồng dữ liệu (Data flow control) tầng này cung cấp các
dịch vụ điều khiểnluồng lưu thông cho các phiên từ logic này đến đơn vị logic
khác (LU - LU). Nó thực hiện điều này bằng cách gán các số trình tự, các yêu
cầu và đáp ứng, thực hiện các giao thức yêu cầu về đáp ứng giao dịch và hợp
tác giữa các giao dịch gởi và nhận. Nói chung nó yểm trợ phương thức khai
thác hai chiều đồng thời (Full duplex).
Tầng kiểm soát truyền (Transmission control): Tầng này cung cấp các
điều khiển cơ bản của các phần tài nguyên truyền trong mạng, bằng cách xác
định số trình tự nhận được, và quản lý việc theo dõi mức phiên. Tầng này cũng
hỗ trợ cho việc mã hóa dữ liệu và cung cấp hệ thống hỗ trợ cho các nút ngoại
vi.
Tầng kiểm soát đường dẫn (Path control): Tầng này cung cấp các giao
thức để tìm đường cho một gói tin qua mạng SNA và để kết nối với các mạng
SNA khác, đồng thời nó cũng kiểm soát các đường truyền này.
Tầng kiểm soát liên kết dữ liệu (Data Link Control): Tầng này cung cấp
các giao thức cho việc truyền các gói tin thông qua đường truyền vật lý giữa
hai node và cũng cung cấp các điều khiển lưu thông và phục hồi lỗi, các hỗ trợ
cho tầng này là các giao thức SDLC, System/370, X25, IEEE 802.2 và 802.5.
Tầng kiểm soát vật lý (Physical control): Tầng này cung cấp một giao diện
vật lý cho bất cứ môi trường truyền thông nào mà gắn với nó. Tầng nào định
nghĩa các đặc trưng của tín hiệu cần để thiết lập, duy trì và kết thúc các đường
nối vật lý cho việc hỗ trợ kết nối.
Trang 20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Mạng máy tính - Nguyễn Hoàng Cương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_mang_may_tinh_nguyen_hoang_cuong.pdf

