Tập bài giảng Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (Phần I) - Lê Hữu Ái

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Tiến sĩ Lê Hữu Ái  
Thạc sỹ Lưu Hoàng Tuấn  
Thạc sỹ Nguyễn Hồng Cử  
TẬP BÀI GIẢNG  
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN  
CỦA CHỦ NGHĨA MAC – LÊNIN  
(Phần I)  
Năm 2009  
Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
Lời giới thiệu  
Thực hiện chương trình đổi mới việc giảng dạy và học tập các môn  
khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học và  
cao đẳng, trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học, ngày 18 tháng 09 năm  
2008, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 52  
/2008/QĐ-BGDĐT về chương trình các môn học lý luận chính trị, chương  
trình này được áp dụng từ học kỳ II năm học 2008-2009. Nhằm đáp ứng nhu  
cầu học tập của sinh viên các trường thuộc Đại học Đà Nẵng, tập thể cán bộ  
giảng dạy thuộc khoa Mác - Lênin và khoa Kinh tế chính trị, trường đại học  
Kinh tế đã phối hợp biên soạn tập bài giảng này. Tập bài giảng môn “Những  
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” được biên soạn theo chương  
trình khung và Giáo trình của môn học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.  
Tài liệu này còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo để học tập của sinh  
viên các hệ đào tạo khác của Đại học Đà Nẵng. Do thời gian hạn chế do đó  
Tập bài giảng không thể tránh khỏi sai sót. Chúng tôi rất mong nhận được sự  
góp ý của các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên.  
Đà Nẵng ngày 20 tháng 02 năm 2009  
- 1 -  
Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
Chương: Mở đầu  
NHẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN  
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN  
Bất kỳ ngành khoa học nào, thực sự là khoa học khi nó trả lời được ba  
câu hỏi, đó là: môn học nghiên cứu cái gì? (tức là xác định đối tượng của môn  
học); cần phải nghiên cứu, học tập như thế nào (tức là phương pháp của môn  
học) và hệ thống các kết quả từ việc áp dụng phương pháp vào nghiên cứu đối  
tượng (hệ thống các quy luật, phạm trù). Chương Mở đầu của môn học  
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin nhằm giải quyết ba vấn  
đề đó.  
Chương này trình bày khái lược các nội dung trọng tâm và quá trình  
hình thành, phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin nhằm tạo ra cái nhìn tổng  
quát về đối tượng và phạm vi của môn học.  
I. KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN  
1. Chủ nghĩa Mác-Lênin và ba bộ phận lý luận cấu thành  
a. Chủ nghĩa Mác-Lênin  
Chủ nghĩa Mác-Lênin “là hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa học  
của C.Mác, Ph.Ăngghen và sự phát triển của V.I.Lênin; là sự kế thừa và phát  
triển những giá trị của lịch sử tư tưởng nhân loại, trên cơ sở thực tiễn của thời  
đại; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân  
lao động và giải phóng con người; là thế giới quan và phương pháp luận phổ  
biến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng.  
b. Ba bộ phận lý luận cơ bản cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin  
Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống tri thức phong phú về nhiều lĩnh vực,  
nhưng trong đó có ba bộ phận lý luận quan trọng nhất là: triết học, kinh tế  
chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học:  
- Triết học Mác-Lênin là bộ phận nghiên cứu những quy luật vận động,  
phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy nhằm hình thành thế giới  
- 2 -  
Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
quan và phương pháp luận chung nhất cho nhận thức khoa học và thực tiễn  
cách mạng.  
- Kinh tế chính trị nghiên cứu những quy luật kinh tế của xã hội, đặc  
biệt là nghiên cứu quy luật kinh tế của sự phát sinh, phát triển của chủ nghĩa  
tư bản và sự ra đời của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.  
- Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu quy luật khách quan của quá  
trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự chuyển biến lịch sử từ chủ nghĩa tư bản  
lên chủ nghĩa xã hội.  
Ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin có đối tượng nghiên cứu  
cụ thể khác nhau nhưng đều nằm trong hệ thống lý luận khoa học thống nhất -  
Đó là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân  
lao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột, tiến tới giải phóng con người.  
2. Khái lược quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin  
a. Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác  
Điều kiện kinh tế - xã hội  
Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 thế kỷ XIX. Đây là thời kỳ  
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu đã phát triển mạnh  
mẽ trên cơ sở những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp. Cách mạng  
công nghiệp không những đánh dấu sự chuyển biến từ nền sản xuất thủ công  
sang đại công nghiệp mà còn làm thay đổi sâu sắc cục diện xã hội, nhất là sự  
hình thành và phát triển của giai cấp vô sản. Cách mạng công nghiệp làm cho  
mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội hoá với quan hệ sản xuất  
mang tính tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt. Biểu hiện của mâu  
thuẫn trên là sự xuất hiện của khủng hoảng kinh tế (xảy ra lần đầu tiên ở Anh  
vào năm 1825)  
Phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa  
của công nhân ngành dệt thành phố Liôn (Pháp) năm 1831, 1834; Phong trào  
Hiến chương Anh (1835-1848), khởi nghĩa của công nhân dệt ở Silêdi (Đức)  
năm 1844...Điều đó chứng tỏ giai cấp công nhân đã trở thành lực lượng chính  
trị độc lập. Thực tiễn cuộc đấu tranh giai cấp đặt ra đòi hỏi khách quan là giai  
- 3 -  
Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
cấp công nhân cần phải được trang bị vũ khí về lý luận làm cơ sở cho đấu  
tranh giai cấp.  
Vì vậy, thực tiễn cách mạng là tiền đề thực tiễn cho sự phát triển lý  
luận của chủ nghĩa Mác.  
Tiền đề lý luận:  
Chủ nghĩa Mác ra đời dựa trên sự kế thừa tinh hoa di sản lý luận của  
nhân loại trong đó trực tiếp là Triết học cổ điển Đức, Kinh tế chính trị học cổ  
điển Anh và Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp.  
Triết học cổ điển Đức với các đại biểu xuất sắc là L.Phơbách (Ludwig  
Andreas Feuerbach, 1804 – 1872) và G.W.Ph.Hêghen (Georg Wilhelm  
Friedrich Hegel, 1770 1831) đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành thế  
giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác.  
Với triết học của G.W.Ph.Hêghen, lần đầu tiên trong lịch sử tư duy của  
nhân loại đã diễn đạt nội dung của phép biện chứng dưới dạng lý luận chặt  
chẽ thông qua một hệ thống các quy luật, phạm trù. Trên cơ sở phê phán quan  
điểm duy tâm thần bí trong triết học của G.W.Ph.Hêghen, C.Mác và  
Ph.Ăngghen đã kế thừa phép biện chứng của ông để xây dựng phép biện  
chứng duy vật.  
C.Mác và Ph.Ăngghen đánh giá cao quan điểm triết học của L.Phơbách  
trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo nhưng đồng thời  
cũng phê phán quan điểm quan điểm siêu hình của ông. Chủ nghĩa duy vật, vô  
thần của ông đã tạo tiền đề cho sự chuyển biến của C.Mác, Ph.Ăngghen từ thế  
giới quan duy tâm sang duy vật, từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập  
trường chủ nghĩa cộng sản.  
Kinh tế chính trị cổ điển Anh với các đại biểu tiêu biểu như A.Smít,  
D.Ricácđô đã góp phần tích cực vào sự hình thành quan niệm duy vật về lịch  
sử của chủ nghĩa Mác.  
Công lao của A.Smít (Adam Smith, 1723 – 1790) và D.Ricácđô (David  
Ricardo, 1772 -1823) là đã xây dựng lý luận giá trị lao động, đưa ra kết luận  
quan trọng về nguồn gốc của giá trị và lợi nhuận và các quy luật kinh tế khách  
- 4 -  
Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
quan, nhưng lý luận của các ông có hạn chế là không thấy được tính lịch sử  
của giá trị và mâu thuẫn của sản xuất hàng hóa, không phân biệt được sản  
xuất hàng hóa giản đơn với sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, chưa phân  
tích được những biểu hiện của giá trị trong phương thức sản xuất tư bản chủ  
nghĩa.  
C.Mác đã kế thừa những yếu tố hợp lý trong học thuyết giá trị và  
những tư tưởng tiến bộ của các nhà cổ điển, giải quyết được những bế tắc mà  
các nhà cổ điển không thể vượt qua để xây dựng lý luận giá trị thặng dư, luận  
chứng khoa học về bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản và nguồn gốc kinh  
tế của sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời khách quan của  
chủ nghĩa xã hội.  
Chủ nghĩa xã hội không tưởng không tưởng đã có quá trình phát triển  
lâu dài và đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ XIX. Các đại biểu xuất sắc như:  
H.Xanh Ximông (Henri Saint Simon, 1976 - 1725), S.Phuriê (Charles Fourier,  
1772 - 1837), R.Ôoen (Robert Owen, 1771 – 1858) thể hiện đậm nét tư tưởng  
nhân đạo, phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản và đưa ra nhưng dự báo thiên  
tài về xã hội tương lai. Hạn chế của họ là không phân tích được một cách  
khoa học bản chất của chủ nghĩa tư bản, chưa thấy được sứ mệnh lịch sử của  
giai cấp công nhân, song tinh thần nhân đạo và những dự báo của các ông đã  
trở thành tiền đề lý luận quan trọng cho sự ra đời của lý luận khoa học về chủ  
nghĩa xã hội trong chủ nghĩa Mác.  
Tiền đề khoa học tự nhiên  
Chủ nghĩa duy vật biện chứng của C.Mác là kết quả của sự tổng kết  
những thành tựu khoa học của nhân loại, nhất là ba phát minh trong khoa học  
tự nhiên:  
Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng. Đây là cơ sở khoa học  
để khẳng định rằng vật chất và vận động của vật chất không do ai sáng tạo ra  
và không thể bị tiêu diệt. Chúng chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác,  
từ hình thức này sang hình thức khác.  
- 5 -  
Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
Thuyết tiến hóa của Đácuyn (Charles Robert Darwin, 1809 – 1882) đã  
đem lại cơ sở khoa học về sự phát sinh, phát triển của các giống loài, mối liên  
hệ hữu cơ giữa các loài thực vật, động vật trong quá trình chọn lọc tự nhiên.  
- Thuyết tế bào Học thuyết tế bào do GS. M.Slaiđen (trường Đại học  
Gana,ở Đức) xây dựng năm 1838. Ông cho rằng, tế bào là đơn vị sống cơ bản  
nhất trong kết cấu của mọi thực vật. Quá trình phát dục của thực vật là quá  
trình hình thành và phát triển của tế bào. Sau đó, vào năm 1839 GS. T.Svannơ  
(GS phẫu thuật người của trường Đại học Ruăng ở Đức) đã mở rộng học  
thuyết tế bào từ giới thực vật sang giới động vật, khiến loài người nhận thức  
được rằng, tế bào là đơn nguyên kết cấu chung của mọi cơ thể sinh vật.  
Những phát hiện nêu trên đã vạch ra quá trình biện chứng của sự vận động,  
phát triển, chuyển hoá không ngừng của bản thân giới sinh vật.  
Như vậy, sự ra đời của chủ nghĩa Mác là hiện tượng hợp quy luật, nó vừa  
là sản phẩm của tình hình kinh tế xã hội đương thời, của tri thức nhân loại  
trong các lĩnh vực khoa học, vừa là sản phẩm năng lực tư duy và tinh thần  
nhân văn của những người sáng lập ra nó.  
b. Các giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác  
Giai đoạn hình thành chủ nghĩa Mác (1842-1848)  
Trong giai đoạn này với các tác phẩm chủ yếu như: Bản thảo kinh tế-  
triết học (C.Mác, 1844), Gia đình thần thánh (C.Mác - Ph.Ăngghen, 1845),  
Luận cương về Phơbách (C.Mác, 1845), Hệ tư tưởng Đức (C.Mác-  
Ph.Ăngghen, 1845), C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa những tinh hoa của chủ  
nghĩa duy vật và phép biện chứng để xây dựng nên phép biện chứng duy vật.  
Trong tác phẩm Sự khốn cùng của triết học (C.Mác, 1847), C.Mác đã  
đề xuất những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa xã hội  
khoa học và bước đầu thể hiện tư tưởng về giá trị thặng dư. Trong Tuyên ngôn  
của Đảng Cộng sản (C.Mác-Ph.Ăngghen, 1848) đã chỉ ra quy luật vận động  
của lịch sử, thể hiện tư tưởng cơ bản về lý luận hình thái kinh tế xã hội, về  
giai cấp và đấu tranh giai cấp. Với các quan điểm này, C.Mác và Ph.Ăngghen  
đã tạo tiền đề sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử.  
- 6 -  
Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
Giai đoạn từ 1849-1895  
Đây là giai đoạn phát triển, hoàn thiện của chủ nghĩa Mác. Trong giai  
đoạn này cùng với các hoạt động thực tiễn, trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa duy  
vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nghiên cứu một cách toàn diện phương  
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.  
Dựa trên việc phát hiện ra phạm trù hàng hóa sức lao động, C.Mác đã  
tìm ra nguồn gốc của giá trị thặng dư, chỉ ra bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư  
bản. Lý luận giá trị thặng dư được C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày toàn diện,  
sâu sắc trong bộ Tư bản. Tác phẩm này không chỉ mở đường cho sự hình  
thành hệ thống lý luận kinh tế chính trị trên lập trường giai cấp vô sản mà còn  
củng cố, phát triển quan điểm duy vật lịch sử thông qua lý luận hình thái kinh  
tế - xã hội, làm cho chủ nghĩa duy vật lịch sử không còn là một giả thuyết mà  
là một nguyên lý đã được chứng minh một cách khoa học, bộ Tư bản còn là  
tác phẩm chủ yếu trình bày về chủ nghĩa xã hội khoa học thông qua việc làm  
sáng tỏ quy luật hình thành, phát triển và diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư  
bản, sự thay thế nó bằng chủ nghĩa xã hội và sứ mệnh lịch sử của giai cấp  
công nhân.  
Tư tưởng về chủ nghĩa duy vật lich sử, về cách mạng vô sản tiếp tục  
được phát triển trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta (C.Mác, 1875). Tác  
phẩm này trình bày những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác về nhà nước  
chuyên chính vô sản, về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã  
hội, các giai đoạn xây dựng chủ nghĩa cộng sản.  
c. V.I Lênin bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch  
sử mới  
Bối cảnh lịch sử và nhu cầu bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác  
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai  
đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền. Bản chất bóc lột và thống trị của chủ nghĩa  
tư bản ngày càng được bộc lộ rõ nét, mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản trở nên  
gay gắt. Các nước tư bản chia nhau thị trường thế giới và gây ra cuộc Chiến  
tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918).  
- 7 -  
Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
Tại các nước thuộc địa, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc tạo nên  
sự thống nhất giữa cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản mà  
trung tâm là Cách mạng Tháng Mười Nga.  
Sau khi Ph.Ăngghen qua đời, các phần tử cơ hội trong Quốc tế II tìm  
mọi cách nhằm xuyên tạc chủ nghĩa Mác. Trước tình hình đó đòi hỏi  
V.I.Lênin phải tiến hành đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác.  
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong khoa học tự nhiên, nhất là trong  
vật lý học, có nhiều phát minh khoa học làm đảo lộn quan niệm siêu hình về  
vật chất và vận động, gây ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong triết  
học. Chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng tình trạng khủng hoảng này để tấn công  
và bác bỏ chủ nghĩa duy vật. Trong hoàn cảnh đó, V.I.Lênin tiến hành đấu  
tranh chống chủ nghĩa duy tâm để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật.  
Vai trò của V.I Lênin đối với việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác  
Quá trình bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác chia thành ba thời kỳ:  
Giai đoạn 1893-1907, là thời kỳ V.I.Lênin tập trung chống lại phái  
Dân túy. Trong tác phẩm: Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh  
chống những người dân chủ - xã hội ra sao (1894), V.I.Lênin đã phê phán  
tính chất duy tâm và những sai lầm của phái Dân túy về nhận thức những vấn  
đề lịch sử - xã hội, vạch rõ ý đồ xuyên tạc chủ nghĩa Mác bằng cách xóa nhòa  
ranh giới giữa phép biện chứng duy vật của C.Mác với phép biện chứng duy  
tâm của G.Hêghen, nêu lên mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn.  
Trong tác phẩm Làm gì? (1902) V.I.Lênin phát triển lý luận của chủ  
nghĩa Mác về các hình thức đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản trước khi  
giành chính quyền; đề cập đến nhiều vấn đề đấu tranh kinh tế, chính trị, tư  
tưởng; đặc biệt ông nhấn mạnh quá trình hình thành hệ tư tưởng của giai cấp  
vô sản.  
Năm 1905, V.I.Lênin viết tác phẩm Hai sách lược của Đảng dân chủ -  
xã hội trong cách mạng dân chủ. Trong tác phẩm này, V.I.Lênin đã phát triển  
lý luận về phương pháp cách mạng, các nhân tố chủ quan và nhân tố khách  
- 8 -  
Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
quan, vai trò của quần chúng nhân dân, của các đảng chính trị trong cách  
mạng tư sản giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.  
Giai đoạn 1907-1917  
Trong giai đoạn này diễn ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan, dẫn  
đến sự xuất hiện tư tưởng duy tâm của Makhơ phủ nhận chủ nghĩa Mác.  
V.I.Lênin đã tổng kết toàn bộ thành tựu khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX,  
đầu thế kỷ XX; tổng kết các sự kiện lịch sử của thời kỳ này để viết tác phẩm  
Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1909). Bằng việc đưa  
ra định nghĩa kinh điển về vật chất; nêu lên mối quan hệ giữa vật chất và ý  
thức, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, những nguyên tắc của nhận thức.  
Bảo vệ nguồn gốc lịch sử, bản chất và kết cấu của chủ nghĩa Mác (ở tác phẩm  
Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác, 1913), phép biện  
chứng (tác phẩm Bút ký triết học, 1914-1916), phát triển tư tưởng về nhà  
nước và chuyên chính vô sản, bạo lực cách mạng, vai trò của Đảng Cộng sản  
và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội (tác phẩm Nhà nước và cách mạng,  
1917).  
Giai đoạn sau Cách Mạng Tháng Mười 1917-1924  
Cách mạng Tháng Mười Nga thành công mở ra thời đại quá độ từ chủ  
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, nảy sinh những  
nhu cầu mới về lý luận mà thời C.Mác, Ph.Ăngghen chưa đặt ra. Trên cơ sở  
tổng kết thực tiễn cách mạng của quần chúng nhân dân, V.I.Lênin đã viết các  
tác phẩm: Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản (1920), Lại bàn  
về về công đoàn, Về tình hình trước mắt và về những sai lầm của các đồng  
chí Tơrôtxki và Bukharin (1921), Về chính sách kinh tế mới (1921), Bàn về  
thuế lương thực (1921) nhằm tiếp tục bảo vệ phép biện chứng mácxít, chống  
chủ nghĩa chiết trung, và thuyết ngụy biện; phát triển học thuyết Mác về nhân  
tố quyết định thắng lợi của một chế độ xã hội, về giai cấp, về hai nhiệm vụ cơ  
bản của giai cấp vô sản, về chiến lược, sách lược của đảng vô sản trong điều  
kiện lịch sử mới, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, về kế hoạch xây  
dựng chủ nghĩa xã hội.  
- 9 -  
Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
d. Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn phong trào cách mạng thế giới  
Chủ nghĩa Mác-Lênin với cách mạng vô sản Nga (1917)  
Chủ nghĩa Mác ra đời đã ảnh hưởng to lớn đến phong trào cộng sản và  
công nhân quốc tế. Cách mạng tháng Ba năm 1871 ở Pháp với sự ra đời của  
nhà nước chuyên chính vô sản (công xã Pari) là sự kiểm nghiệm đầu tiên của  
chủ nghĩa Mác.  
Tháng 8 năm 1903, chính đảng vô sản đầu tiên được thành lập ở Nga  
và lãnh đạo cuộc cách mạng 1905. Tháng Mười năm 1917, cuộc cách mạng  
xã hội chủ nghĩa của giai cấp vô sản thắng lợi, mở ra một kỷ nguyên mới cho  
nhân loại, chứng minh tính hiện thực của chủ nghĩa Mác-Lênin trong lịch sử.  
Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và  
xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới.  
Sau 1917, học thuyết Mác-Lênin tiếp tục có những ảnh hưởng sâu rộng:  
năm 1919 Quốc tế Cộng sản được thành lập; năm 1922 Liên bang Cộng hòa xã  
hội chủ nghĩa Xô viết ra đời; sau chiến tranh thế giới thứ 2, hàng loạt nước xã  
hội chủ nghĩa ra đời, hình thành nên hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới bao gồm  
các nước Mông Cổ, Ba Lan, Rumani, Hunggari, Việt Nam, Tiệp Khắc, Cộng  
hòa dân chủ Đức, Trung Quốc, Cu Ba, Nam Tư, Anbani, Bungari.  
Những sự kiện trên đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào công nhân và phong  
trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Vai trò định hướng của chủ nghĩa Mác  
Lênin đã đem lại những thành quả lớn lao cho sự nghiệp vì hòa bình, độc lập  
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.  
Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà đặc biệt là do sai  
lầm trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác của những người cộng sản đã dẫn tới  
hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới lâm vào khủng hoảng, thoái trào, song đó  
không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác-Lênin; sự sụp đổ của Liên Xô và  
các nước Đông Âu không đồng nhất với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nói  
chung. Một số nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt Nam... thực hiện  
thành công công cuộc đổi mới chủ nghĩa xã hội, chẳng những đã có thể ra  
khỏi khủng hoảng, mà còn thực hiện tốt hơn những mục tiêu của công cuộc  
- 10 -  
Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội  
vẫn được khẳng định ở nhiều quốc gia và chiều hướng đi theo con đường xã  
hội chủ nghĩa vẫn lan rộng ở các nước khu vực Mỹ Latinh.  
Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây là sự phá sản của  
mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội. Việc đổi mới thành công chủ nghĩa xã hội ở  
một số nước đã mở ra cho nhân loại nhiều triển vọng mới. Nhân loại chẳng  
những không từ bỏ chủ nghĩa xã hội, mà trái lại, tìm kiếm một mô hình mới  
của chủ nghĩa xã hội phù hợp với tình hình mới. Cần phải thấy rằng, dù xã hội  
hiện nay có biến đổi thế nào thì bản chất của chủ nghĩa tư bản vẫn không thay  
đổi. Chính vì vậy, việc bảo vệ thành quả của chủ nghĩa xã hội, phát triển chủ  
nghĩa Mác-Lênin và đổi mới công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trở thành  
vấn đề cấp bách trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.  
Công cuộc đổi mới ở nước ta do Đảng ta phát động và lãnh đạo không  
có nghĩa là từ bỏ mà là nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ  
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững sự lãnh đạo của Đảng;  
kiên trì mục tiêu chủ nghĩa xã hội; nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa  
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện cụ thể của nước  
ta và bối cảnh thế giới hiện nay.  
II. ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP,  
NGHIÊN CỨU NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN  
1. Đối tượng và mục đích của việc học tập, nghiên cứu  
Đối tượng học tập, nghiên cứu môn học“Những nguyên lý cơ bản  
của chủ nghĩa Mác-Lênin” là: “những quan điểm cơ bản, nền tảng của chủ  
nghĩa Mác-Lênin trong phạm vi ba bộ phận cấu thành nó.  
Trong phạm vi lý luận triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin: nghiên cứu  
những nguyên lý cơ bản về thế giới quan và phương pháp luận chung nhất,  
bao gồm:  
Những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng với tư cách là hạt  
nhân lý luận của thế giới quan khoa học.  
- 11 -  
Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
Phép biện chứng duy vật với tư cách là khoa học về mối liên hệ phổ  
biến và sự phát triển, những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển  
của tự nhiên, xã hội, tư duy.  
Chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là sự vận dụng những nguyên  
lý của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng vào việc nghiên cứu đời sống  
xã hội.  
- Trong phạm vi lý luận kinh tế chính trị của chủ nghĩa Mác-Lênin, đó  
là nghiên cứu học thuyết giá trị lao động, học thuyết giá trị thặng dư, học  
thuyết về chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà  
nước; khái quát những quy luật kinh tế cơ bản của phương thức sản xuất tư  
bản chủ nghĩa từ giai đoạn hình thành đến giai đoạn phát triển cao của nó.  
- Trong phạm vi chủ nghĩa xã hội khoa học, đó là nghiên cứu về sứ  
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa;  
những quy luật của sự hình thành, phát triển của hình thái kinh tế xã hội cộng  
sản chủ nghĩa và những định hướng cho hoạt động của giai cấp công nhân.  
Mục đích của việc nghiên cứu, học tập môn Những nguyên lý cơ  
bản của chủ nghĩa Mác-Lênin:  
- Nắm vững quan điểm khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa  
Mác Lênin.  
- Hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của Tư tưởng Hồ Chí Minh và  
Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.  
- Xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học và vận dụng  
sáng tạo những nguyên lý đó trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, hiểu rõ  
nền tảng tư tưởng của Đảng  
- Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-  
Lênin là để xây dựng niềm tin, lý tưởng cách mạng, rèn luyện tu dưỡng đạo  
đức, đáp ứng yêu cầu của con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và  
bảo vệ đất nước.  
2. Một số yêu cầu cơ bản về phương pháp học tập, nghiên cứu  
- 12 -  
Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
Trong quá trình học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủ  
nghĩa Mác-Lênin cần thực hiện một số yêu cầu cơ bản sau:  
- Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-  
Lênin cần phải hiểu đúng tinh thần, thực chất của nó; tránh bệnh kinh viện,  
giáo điều trong quá trình học tập, nghiên cứu và vận dụng các nguyên lý cơ  
bản đó trong thực tiễn.  
- Những luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin có quan hệ mật thiết với  
nhau, bổ sung và hỗ trợ cho nhau, vì vậy, nghiên cứu mỗi luận điểm của chủ  
nghĩa Mác-Lênin phải đặt chúng trong mối liên hệ với các luận điểm khác,  
mỗi bộ phận cấu thành trong mối quan hệ với các bộ phận cấu thành khác để  
thấy sự thống nhất trong tính đa dạng và nhất quán của mỗi tư tưởng nói  
riêng, của chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung.  
- Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-  
Lênin cần phải theo nguyên tắc gắn kết những quan điểm cơ bản của chủ  
nghĩa Mác-Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn thời đại để  
thấy được sự vận dụng sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong từng giai  
đoạn lịch sử.  
- Học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin phải gắn với quá trình giáo  
dục, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, đáp ứng yêu cầu xây dựng con người Việt  
Nam trong giai đoạn mới.  
- Hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là hệ thống lý  
luận khép kín mà trái lại là hệ thống lý luận không ngừng phát triển trên cơ sở  
phát triển thực tiễn của thời đại, do vậy, cần đặt nó trong lịch sử phát triển tư  
tưởng của nhân loại.  
- 13 -  
Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
Phần thứ nhất  
THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC  
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN  
Chương I  
CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG  
I. CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG  
1. Sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm trong việc  
giải quyết vấn đề cơ bản của triết học  
Dựa trên tổng kết toàn bộ lịch sử triết học, Ph.Ăngghen cho rằng: “Vấn  
đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề  
quan hệ giữa tư duy và tồn tại”(1), hay giữa ý thức với vật chất.  
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:  
Mặt thứ nhất, (mặt bản thể luận) trả lời câu hỏi: trong mối quan hệ giữa  
tư duy và tồn tại, giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau,  
cái nào quyết định cái nào?  
Mặt thứ hai, (mặt nhận thức luận) trả lời câu hỏi: tư duy con người có  
khả năng nhận thức thế giới hay không?  
Việc giải quyết vấn hai mặt vấn đề cơ bản của triết học là xuất phát điểm  
của các trường phái lớn: chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật; khả tri luận  
(thuyết có thể biết) và bất khả tri luận (không thể biết). Ngoài ra còn có chủ  
nghĩa nhị nguyên và hoài nghi luận.  
Chủ nghĩa duy vật là trường phái triết học xuất phát từ quan điểm: bản  
chất của thế giới là vật chất; vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai;  
vật chất có trước ý thức và quyết định ý thức.  
Chủ nghĩa duy tâm là trường phái triết học cho rằng: bản chất của thế  
giới là tinh thần; ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai; ý thức có  
trước và quyết định vật chất.  
(1)  
C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20, tr.403.  
- 14 -  
 
Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
Chủ nghĩa duy tâm có hai trào hình thức cơ bản là Chủ nghĩa duy tâm  
khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan.  
Chủ nghĩa duy tâm khách quan thừa nhận tính thứ nhất của tinh thần, ý  
thức nhưng tinh thần, ý thức đó được quan niệm là tinh thần khách quan, ý  
thức khách quan có trước và tồn tại độc lập với giới tự nhiên và con người.  
Những đại biểu của trào lưu này là Platon, Hêghen, Tômat Đacanh…  
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con  
người, khẳng định ý thức quyết định vật chất, vật chất không tồn tại độc lập  
mà phụ thuộc vào cảm giác, ý thức. Những đại biểu của trào lưu này là  
G.Beccơli, D.Hium.  
Ngoài sự phân biệt chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, người ta còn  
phân biệt:  
Thuyết nhất nguyên là khuynh hướng triết học cho rằng thế giới chỉ có  
một bản nguyên, là thực thể vật chất hoặc thực thể tinh thần có trước và quyết  
định. Tùy theo quan niệm cho rằng vật chất hay tinh thần là thực thể của thế  
giới mà thuyết nhất nguyên có hai hình thức tương ứng: thuyết nhất nguyên  
duy vật và thuyết nhất nguyên duy tâm.  
Thuyết nhị nguyên cho rằng có hai thực thể vật chất và ý thức song song  
tồn tại, không phụ thuộc lẫn nhau.  
Thuyết đa nguyên là khuynh hướng triết học cho rằng có nhiều cơ sở,  
nhiều bản nguyên của tồn tại, chúng không phụ thuộc lẫn nhau.  
Trong việc giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học có hai  
khuynh hướng đối lập nhau là thuyết khả tri và thuyết bất khả tri. Đa số các  
nhà triết học khẳng định rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới,  
có khả năng đạt được chân lý khách quan. Một số các nhà triết học phủ nhận  
một phần hay toàn bộ khả năng nhận thức của con người. Những nhà triết học  
này thuộc thuyết bất khả tri (có nghĩa là không thể nhận thức được). Đại biểu  
của khuynh hướng này là Protagor, D.Hium, I.Cantơ…  
Đối lập với chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật tồn tại và phát triển  
có nguồn gốc từ sự phát triển của khoa học và thực tiễn, đồng thời thường gắn  
- 15 -  
Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
với lợi ích của giai cấp và lực lượng tiến bộ trong lịch sử. Chủ nghĩa duy vật  
không chỉ tổng kết, khái quát kinh nghiệm và thành tựu mà con người đạt  
được mà còn định hướng cho hoạt động thực tiễn của con người.  
2. Chủ nghĩa duy vật biện chứng-hình thức phát triển cao nhất của chủ  
nghĩa duy vật.  
Trong lịch sử, cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, chủ  
nghĩa duy vật được hình thành và phát triển với ba hình thức cơ bản là chủ  
nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật  
biện chứng.  
a. Chủ nghĩa duy vật chất phác  
Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học  
duy vật thời kỳ cổ đại. Họ thừa nhận tính thứ nhất của vật chất nhưng lại đồng  
nhất vật chất với một hay dạng tồn tại cụ thể của vật chất, coi đó là thực thể  
đầu tiên, là bản nguyên của vũ trụ. Đó là sự nhận thức mang tính trực quan  
nhưng chủ nghĩa duy vật chất phác Scó ưu điểm là đã lấy bản thân giới tự  
nhiên để giải thích giới tự nhiên mà không viện đến một thần linh hay một  
đấng sáng tạo nào để giải thích thế giới.  
b. Chủ nghĩa duy vật siêu hình  
Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật,  
phát triển rõ nét từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, và đạt đỉnh cao vào thế kỷ  
XIX, nó gắn với thời kỳ cơ học cổ điển phát triển mạnh, do đó chịu sự tác  
động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc. Đặc điểm của  
chủ nghĩa duy vật siêu hình là nhận thức thế giới như một cỗ máy cơ giới mà  
mỗi bộ phận tạo nên nó luôn ở trạng thái biệt lập, tĩnh tại. Nếu có biến đổi thì  
chỉ có sự tăng, giảm đơn thuần về số lượng, do những nguyên nhân bên ngoài  
gây ra.  
Tuy chưa phản ánh đúng hiện thực trong mối liên hệ phổ biến và sự  
phát triển nhưng chủ nghĩa duy vật siêu hình đã góp phần vào việc chống lại  
thế giới quan duy tâm và tôn giáo, nhất là giai đoạn lịch sử chuyển tiếp từ thời  
Trung cổ sang thời Phục hưng ở các nước Tây Âu.  
- 16 -  
Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
c. Chủ nghĩa duy vật biện chứng  
Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng từ  
những năm 40 của thế kỷ XIX và được V.I.Lênin phát triển. Chủ nghĩa duy  
vật biện chứng ra đời trên cơ sở kế thừa tinh hoa trong lịch sử triết học, dựa  
trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên vì vậy, đã khắc phục được  
hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác và chủ nghĩa duy vật siêu hình. Trên  
cơ sở phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến và  
sự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng là công cụ vĩ đại cho hoạt động  
nhận thức và thực tiễn cách mạng.  
II. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ VẬT CHẤT, Ý  
THỨC VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC  
1. Vật chất  
a. Phạm trù vật chất  
Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử phát triển trên  
2500 năm và có quá trình phát triển gắn liền với thực tiễn và nhận thức của  
con người:  
Chủ nghĩa duy tâm quan niệm bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiên của  
mọi tồn tại là bản nguyên tinh thần, còn vật chất là sản phẩm của bản nguyên  
tinh thần ấy. Chủ nghĩa duy tâm phủ nhận vật chất với tính cách là thực tại  
khách quan, cho rằng thế giới vật chất là tạo vật của thượng đế, hoặc là “sự  
phức hợp” những cảm giác của con người.  
Chủ nghĩa duy vật cổ đại đã đồng nhất vật chất với những dạng tồn tại  
cụ thể của vật chất. Thí dụ: nước (quan niệm của Talet); không khí (quan  
niệm Anaximen); lửa (quan niệm của Hêraclit); nguyên tử (quan niệm của  
Đêmôcrit); đất, nước, lửa, gió (quan niệm của triết học Ấn Độ); kim, mộc,  
thủy, hỏa, thổ (quan niệm trong Thuyết ngũ hành ở Trung Quốc).  
Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII đồng nhất vật chất với nguyên tử  
và khối lượng. Với quan niệm vật chất là một hay một số chất tự có, đầu tiên,  
sản sinh ra vũ trụ chứng tỏ các nhà duy vật trước C.Mác đã đồng nhất vật chất  
với vật thể. Hạn chế này tất yếu dẫn đến quan điểm duy vật nửa vời, không  
- 17 -  
Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
triệt để. Họ chỉ duy vật khi giải quyết những vấn đề của tự nhiên nhưng lại  
duy tâm thần bí khi giải thích các hiện tượng xã hội.  
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một loạt phát minh khoa học làm cho  
các quan điểm duy vật siêu hình rơi vào khủng hoảng. Nhiều páht minh trong  
vật lý học thời kỳ này đã làm đảo lộn quan niệm cũ về vật chất, đó là:  
Rơnghen (Đức) phát hiện ra tia X (1895); A.H.Beccơren (1852-1908), nhà vật  
lý học Pháp và M.Quyri (1867-1934), phát minh ra hiện tượng phóng xạ trong  
chất uranium (1896); S.J.Tômxơn phát hiện ra điện tử (1897); nhà bác học  
Đức Kaufman phát hiện ra sự thay đổi khối lượng điện tử; thuyết tương đối  
hẹp của A.Anhxtanh...  
Các phát minh khoa học này gây ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan  
trong vật lý học. Một số các nhà vật lý học giải thích một cách duy tâm các  
hiện tượng vật lý và cho rằng vật chất tiêu tan. Trong hoàn cảnh đó, các nhà  
triết học duy tâm chủ quan lợi dụng cơ hội này để khẳng định bản chất “phi  
vật chất” của thế giới, khẳng định vai trò của các lực lượng siêu nhiên đối với  
quá trình sáng tạo ra thế giới, cơ sở tồn tại của chủ nghĩa duy vật không còn  
nữa. Tình hình đó đòi hỏi V.I.Lênin phải đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ  
nghĩa duy vật.  
Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê  
phán”, V.I.Lênin đưa ra định nghĩa vật chất kinh điển:  
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan  
được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta  
chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”(1).  
Từ định nghĩa vật chất có thể khẳng định:  
Thứ nhất, cần phải phân biệt “vật chất” với tư cách là phạm trù triết học  
với những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất. Vật chất với tư cách là phạm trù  
triết học là kết quả của sự khái quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính,  
những mối liên hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng nên nó phản ánh cái  
chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi; còn tất cả những sự vật,  
(1) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva,1976, t.18, tr.151.  
- 18 -  
 
Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
hiện tượng chỉ là những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất nên nó có quá trình  
phát sinh, phát triển và chuyển hóa. Vì vậy, không thể đồng nhất vật chất với  
một hay một số dạng biểu hiện cụ thể của vật chất.  
Thứ hai, đặc trưng quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan,  
tức là thuộc tính tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức con  
người, dù con người có nhận thức được nó hay không.  
Thứ ba, vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gây  
nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác  
quan của con người. Ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất,  
còn vật chất là cái được ý thức phản ánh.  
Phương pháp định nghĩa mà V.I.Lênin dùng để định nghĩa vật chất là  
đối lập vật chất với phạm trù ý thức, chỉ ra thuộc tính cơ bản để phân biệt vật  
chất với ý thức.  
Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát  
triển của chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học:  
Một là, với việc tìm ra thuộc tính quan trọng nhất của vật chất là thuộc  
tính khách quan, V.I.Lênin đã phân biệt sự khác nhau giữa vật chất và vật thể,  
khắc phục được sự hạn chế trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật  
cũ; cung cấp căn cứ nhận thức khoa học cho sự phát triển của triết học và các  
khoa học khác và là cơ sở lý luận cho việc xây dựng quan điểm duy vật về  
lịch sử.  
Hai là, với việc khẳng định vật chất là thực tại khách quan “được đem  
lại cho con người trong cảm giác” và “được cảm giác của chúng ta chép lại,  
chụp lại, phản ánh” V.I Lênin khẳng định vật chất là tính thứ nhất, ý thức là  
tính thứ hai đồng thời thừa nhận khả năng của con người có thể nhận thức  
được thực tại khách quan.  
b. Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất  
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là phương  
thức tồn tại của vật chất; không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của  
vật chất.  
- 19 -  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 93 trang myanh 24540 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tập bài giảng Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (Phần I) - Lê Hữu Ái", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftap_bai_giang_nhung_nguyen_ly_co_ban_cua_chu_nghia_mac_lenin.pdf