Giáo trình Nguyên lý ngôn ngữ lập trình - Chương IV: Phân tích cú pháp

CHƯƠNG IV  
PHÂN TÍCH CÚ PHÁP  
Nội dung chính:  
Mỗi ngôn ngữ lập trình đều có các quy tắc diễn tả cấu trúc cú pháp của các chương  
trình có định dạng đúng. Các cấu trúc cú pháp này được mô tả bởi văn phạm phi ngữ  
cảnh. Phần đầu của chương nhắc lại khái niệm văn phạm phi ngữ cảnh, cách tìm một  
văn phạm tương đương không còn đệ quy trái và mơ hồ. Phần lớn nội dung của  
chương trình bày các phương pháp phân tích cú pháp thường được sử dụng trong các  
trình biên dịch: Phân tích cú pháp từ trên xuống (Top down) và Phân tích cú pháp từ  
dưới lên (Bottom up). Các chương trình nguồn có thể chứa các lỗi cú pháp. Trong quá  
trình phân tích cú pháp chương trình nguồn, sẽ rất bất tiện nếu chương trình dừng và  
thông báo lỗi khi gặp lỗi đầu tiên. Vì thế cần phải có kỹ thuật để vượt qua các lỗi cú  
pháp để tiếp tục quá trình dịch - Các kỹ thuật phục hồi lỗi. Từ văn phạm đặc tả ngôn  
ngữ lập trình và lựa chọn phương pháp phân tích cú pháp phù hợp, sinh viên có thể tự  
mình xây dựng một bộ phân tích cú pháp. Phần còn lại của chương giới thiệu công cụ  
Yacc. Sinh viên có thể sử dụng công cụ này để tạo bộ phân tích cú pháp thay vì phải tự  
cài đặt. Mô tả chi tiết về Yacc được tìm thấy ở phần phụ lục B.  
Mục tiêu cần đạt:  
Sau khi học xong chương này, sinh viên phải nắm được:  
• Các phương pháp phân tích cú pháp và các chiến lược phục hồi lỗi.  
• Cách tự cài đặt một bộ phân tích cú pháp từ một văn phạm phi ngữ cảnh xác  
định.  
• Cách sử dụng công cụ Yacc để sinh ra bộ phân tích cú pháp.  
Kiến thức cơ bản:  
Sinh viên phải có các kiến thức về:  
• Văn phạm phi ngữ cảnh (Context Free Grammar – CFG), Automat đẩy xuống  
(Pushdown Automata – PDA).  
• Cách biến đổi từ một CFG về một PDA.  
Tài liệu tham khảo:  
[1] Automata and Formal Language. An Introduction – Dean Kelley – Prentice  
Hall, Englewood Cliffs, New Jersey 07632.  
[2] Compilers : Principles, Technique and Tools - Alfred V.Aho, Jeffrey  
D.Ullman - Addison - Wesley Publishing Company, 1986.  
[3] Compiler Design – Reinhard Wilhelm, Dieter Maurer - Addison - Wesley  
Publishing Company, 1996.  
[4] Design of Compilers : Techniques of Programming Language Translation  
- Karen A. Lemone - CRC Press, Inc, 1992.  
[5] Modern Compiler Implementation in C - Andrew W. Appel - Cambridge  
University Press, 1997.  
65  
I. VAI TRÒ CỦA BỘ PHÂN TÍCH CÚ PHÁP  
1. Vai trò của bộ phân tích cú pháp  
Bộ phân tích cú pháp nhận chuỗi các token từ bộ phân tích từ vựng và xác nhận  
rằng chuỗi này có thể được sinh ra từ văn phạm của ngôn ngữ nguồn bằng cách tạo ra  
cây phân tích cú pháp cho chuỗi. Bộ phân tích cú pháp cũng có cơ chế ghi nhận các lỗi  
cú pháp theo một phương thức linh hoạt và có khả năng phục hồi được các lỗi thường  
gặp để có thể tiếp tục xử lý phần còn lại của chuỗi nhập.  
token  
Biểu diễn  
trung gian  
Cây  
phân tích  
cú pháp  
Bộ  
Phần  
còn lại  
của front  
end  
Bộ phân  
tích cú  
pháp  
Chương  
trình  
nguồn  
phân  
tích từ  
vựng  
Lấy token  
tiếp  
Bảng ký hiệu  
Hình 4.1 - Vị trí của bộ phân tích cú pháp trong mô hình trình biên dịch  
2. Xử lý lỗi cú pháp  
Chương trình nguồn có thể chứa các lỗi ở nhiều mức độ khác nhau:  
- Lỗi từ vựng như danh biểu, từ khóa, toán tử viết không đúng.  
- Lỗi cú pháp như ghi một biểu thức toán học với các dấu ngoặc đóng và mở  
không cân bằng.  
- Lỗi ngữ nghĩa như một toán tử áp dụng vào một toán hạng không tương thích.  
- Lỗi logic như thực hiện một lời gọi đệ qui không thể kết thúc.  
Phần lớn việc phát hiện và phục hồi lỗi trong một trình biện dịch tập trung vào giai  
đọan phân tích cú pháp. Vì thế, bộ xử lý lỗi (error handler) trong quá trình phân tích cú  
pháp phải đạt mục đích sau:  
ƒ Ghi nhận và thông báo lỗi một cách rõ ràng và chính xác.  
ƒ Phục hồi lỗi một cách nhanh chóng để có thể xác định các lỗi tiếp theo.  
ƒ Không làm chậm tiến trình của một chương trình đúng.  
3. Các chiến lược phục hồi lỗi  
Phục hồi lỗi là kỹ thuật vượt qua các lỗi để tiếp tục quá trình dịch. Nhiều chiến  
lược phục hồi lỗi có thể dùng trong bộ phân tích cú pháp. Mặc dù không có chiến lược  
nào được chấp nhận hoàn toàn, nhưng một số trong chúng đã được áp dụng rộng rãi. Ở  
đây, chúng ta giới thiệu một số chiến lược :  
a. Phương thức "hoảng sợ" (panic mode recovery): Ðây là phương pháp đơn  
giản nhất cho cài đặt và có thể dùng cho hầu hết các phương pháp phân tích. Khi một  
66  
lỗi được phát hiện thì bộ phân tích cú pháp bỏ qua từng ký hiệu một cho đến khi tìm  
thấy một tập hợp được chỉ định của các token đồng bộ (synchronizing tokens), các  
token đồng bộ thường là dấu chấm phẩy (;) hoặc end.  
b. Chiến lược mức ngữ đoạn (phrase_level recovery): Khi phát hiện một lỗi, bộ  
phân tích cú pháp có thể thực hiện sự hiệu chỉnh cục bộ trên phần còn lại của dòng  
nhập. Cụ thể là thay thế phần đầu còn lại bằng một chuỗi ký tự có thể tiếp tục. Chẳng  
hạn, dấu phẩy (,) bởi dấu chấm phẩy (;), xóa một dấu phẩy lạ hoặc thêm vào một dấu  
chấm phẩy.  
c. Chiến lược dùng các luật sinh sửa lỗi (error production): Thêm vào văn phạm  
của ngôn ngữ những luật sinh lỗi và sử dụng văn phạm này để xây dựng bộ phân tích  
cú pháp, chúng ta có thể sinh ra bộ đoán lỗi thích hợp để chỉ ra cấu trúc lỗi được nhận  
biết trong dòng nhập.  
d. Chiến lược hiệu chỉnh toàn cục (global correction): Một cách lý tưởng là trình  
biên dịch tạo ra một số thay đổi trong khi xử lý một lỗi. Có những giải thuật để lựa  
chọn một số tối thiểu các thay đổi để đạt được một hiệu chỉnh có chi phí toàn cục nhỏ  
nhất. Cho một chuỗi nhập có lỗi x và một văn phạm G, các giải thuật này sẽ tìm được  
một cây phân tích cú pháp cho chuỗi y mà số lượng các thao tác chèn, xóa và thay đổi  
token cần thiết để chuyển x thành y là nhỏ nhất. Nói chung, hiện nay kỹ thuật này vẫn  
còn ở dạng nghiên cứu lý thuyết.  
II. BIẾN ÐỔI VĂN PHẠM PHI NGỮ CẢNH  
Nhiều ngôn ngữ lập trình có cấu trúc đệ quy mà nó có thể được định nghĩa bằng  
các văn phạm phi ngữ cảnh (context-free grammar) G với 4 thành phần G (V, T, P, S),  
trong đó:  
• V : là tập hữu hạn các ký hiệu chưa kết thúc hay các biến (variables)  
• T : là tập hữu hạn các ký hiệu kết thúc (terminals).  
• P : là tập luật sinh của văn phạm (productions).  
• S ∈ V: là ký hiệu bắt đầu của văn phạm (start symbol).  
Ví dụ 4.1: Văn phạm với các luật sinh sau cho phép định nghĩa các biểu thức số  
học đơn giản (với E là một biểu thức expression) :  
E → E A E ⏐ (E) ⏐ - E ⏐ id  
A → + ⏐ - ⏐ * ⏐ / ⏐ ↑  
1. Cây phân tích cú pháp và dẫn xuất  
Cây phân tích cú pháp có thể được xem như một dạng biểu diễn hình ảnh của một  
dẫn xuất. Ta nói rằng αAβ dẫn xuất ra αγβ (ký hiệu: αAβ ⇒ αγβ) nếu A → γ là một  
luật sinh, α và β là các chuỗi tùy ý các ký hiệu văn phạm.  
Nếu α1 ⇒ α2 ⇒ .. .. ⇒ αn ta nói α1 dẫn xuất ra (suy ra) αn  
Ký hiệu  
⇒ : dẫn xuất ra qua 1 bước  
⇒* : dẫn xuất ra qua 0 hoặc nhiều bước.  
67  
⇒ + : dẫn xuất ra qua 1 hoặc nhiều bước.  
Ta có tính chất:  
1. α ⇒* α với ∀α  
2. α ⇒* β và β ⇒* γ thì α ⇒* γ  
Cho một văn phạm G với ký hiệu bắt đầu S. Ta dùng quan hệ ⇒+ để định nghĩa  
L(G) một ngôn ngữ được sinh ra bởi G. Chuỗi trong L(G) có thể chỉ chứa một ký  
hiệu kết thúc của G. Chuỗi các ký hiệu kết thúc w thuộc L(G) nếu và chỉ nếu S ⇒+ w,  
chuỗi w được gọi là một câu của G. Một ngôn ngữ được sinh ra bởi một văn phạm gọi  
là ngôn ngữ phi ngữ cảnh. Nếu hai văn phạm cùng sinh ra cùng một ngôn ngữ thì  
chúng được gọi là hai văn phạm tương đương.  
Nếu S ⇒* α, trong đó α có thể chứa một ký hiệu chưa kết thúc thì ta nói rằng α là  
một dạng câu (sentential form) của G. Một câu là một dạng câu có chứa toàn các ký  
hiệu kết thúc.  
Một cây phân tích cú pháp có thể xem như một biểu diễn đồ thị cho một dẫn xuất.  
Ðể hiểu được bộ phân tích cú pháp làm việc ta cần xét dẫn xuất trong đó chỉ có ký  
hiệu chưa kết thúc trái nhất trong bất kỳ dạng câu nào được thay thế tại mỗi bước, dẫn  
xuất như vậy được gọi là trái nhất. Nếu α ⇒ β trong đó ký hiệu chưa kết thúc trái nhất  
trong α được thay thế, ta viết α ⇒* lm β  
Nếu S ⇒* lm α ta nói α là dạng câu trái của văn phạm.  
Tương tự, ta có dẫn xuất phải nhất - còn gọi là dẫn xuất chính tắc (canonical  
derivations)  
Ví dụ 4.2: Cây phân tích cú pháp cho chuỗi nhập : - (id + id) sinh từ văn phạm  
trong ví dụ 4.1  
E
-
E
(
E
+
)
E
E
id  
id  
Hình 4.2 - Minh họa một cây phân tích cú pháp  
Ðể thấy mối quan hệ giữa cây phân tích cú pháp và dẫn xuất, ta xét một dẫn xuất :  
α1 ⇒ α2⇒ .. .. ⇒ αn trong đó αi là một ký hiệu chưa kết thúc A.  
Với mỗi αi ta xây dựng một cây phân tích cú pháp. Ví dụ với dẫn xuất:  
E ⇒ -E ⇒ - (E) ⇒ - (E + E) ⇒ - (id + E) ⇒ - (id + id)  
Ta có quá trình xây dựng cây phân tích cú pháp như sau :  
68  
E
E
E
E ⇒  
⇒
⇒
-
E
_
E
-
E
E
(
)
(
E
)
E
E
+
E
E
⇒
_
⇒
E
E
-
(
E
)
(
E
)
E
+
E
E
+
E
id  
id  
id  
Hình 4.3 - Xây dựng cây phân tích cú pháp từ dẫn xuất  
2. Loại bỏ sự mơ hồ  
Một văn phạm tạo ra nhiều hơn một cây phân tích cú pháp cho cùng một chuỗi  
nhập được gọi là văn phạm mơ hồ. Nếu một văn phạm là mơ hồ, ta không thể xác định  
được cây phân tích cú pháp nào sẽ được chọn. Vì thế, ta phải viết lại một văn phạm  
nhằm tránh sự mơ hồ của nó. Một ví dụ, chúng ta sẽ loại bỏ sự mơ hồ trong văn phạm  
sau :  
Stmt → if expr then stmt  
⏐ if expr then stmt else stmt  
⏐ other  
Ðây là một văn phạm mơ hồ vì câu nhập if E1 then if E2 then S1 else S2 sẽ có hai  
cây phân tích cú pháp :  
Stmt  
then  
if  
if  
expr  
E1  
Stmt  
elsem  
expr  
E2  
then  
Stmt  
S1  
Stmt  
S2  
69  
Stmt  
expr  
E1  
elsem  
then  
if  
then  
if  
Stmt  
Stmt  
S2  
expr  
E2  
Stmt  
S1  
Hình 4.4 - Hai cây phân tích cú pháp cho một câu nhập  
Ðể tránh sự mơ hồ này ta đưa ra nguyên tắc "Khớp mỗi else với một then chưa  
khớp gần nhất trước đó". Với qui tắc này, ta viết lại văn phạm trên như sau :  
Stmt  
→ matched_stmt | unmatched_stmt  
matched_stmt → if expr then matched_stmt else matched_stmt  
⏐ other  
unmatched_stmt → if expr then Stmt  
⏐ if expr then matched_stmt else unmatched_stmt  
Văn phạm tương đương này sinh ra tập chuỗi giống như văn phạm mơ hồ trên,  
nhưng nó chỉ có một cách dẫn xuất ra cây phân tích cú pháp cho từng chuỗi nhập.  
3. Loại bỏ đệ qui trái  
Một văn phạm là đệ qui trái (left recursive) nếu nó có một ký hiệu chưa kết thúc A  
sao cho có một dẫn xuất A ⇒+ Aα, với α là một chuỗi nào đó. Các phương pháp phân  
tích từ trên xuống không thể nào xử lý văn phạm đệ qui trái, do đó cần phải dùng một  
cơ chế biến đổi tương đương để loại bỏ các đệ qui trái.  
Ðệ qui trái có hai loại :  
Loại trực tiếp: Dạng A → Aα  
Loại gián tiếp: A ⇒i Aα với i ≥ 2  
Xét văn phạm như sau:  
S → Aa | b  
A→ Ac | Sd | ε  
Biến S cũng là biến đệ qui trái vì S ⇒ Aa ⇒ Sda, nhưng đây không phải là đệ qui  
trái trực tiếp.  
. Với đệ qui trái trực tiếp: Luật sinh có dạng:  
A → Aα1 | Aα2 | ... | Aαm | β1 | β2 | ... | βn  
Sẽ thay thế bởi :  
A → β1A’ | β2A’ | ... | βnA’  
A' → α1A'| α2A' | ... | αm A' | ε  
. Với đệ qui trái gián tiếp (và nói chung là đệ qui trái, ta sử dụng giải thuật sau)  
70  
‰ Giải thuật 4.1: Loại bỏ đệ qui trái  
Input: Văn phạm không tuần hoàn và không có các luật sinh ε (nghĩa là văn phạm  
không chứa các dạng A ⇒ +A và A→ ε)  
Output: Văn phạm tương đương không đệ qui trái  
Phương pháp:  
1. Sắp xếp các ký hiệu không kết thúc theo thứ tự A1, A2, ..., An  
2. For i:=1 to n do  
Begin  
for j:=1 to i -1 do  
begin  
Thay luật sinh dạng Ai → Ajγ bởi luật sinh Ai→ δ1γ | δ2γ | ... | δkγ  
trong đó Aj → δ1 | δ2 | ... | δk là tất cả các Ai luật sinh hiện tại;  
end;  
Loại bỏ đệ qui trái trực tiếp trong số các Ai luật sinh;  
End;  
Ví dụ 4.3: Áp dụng thuật toán trên cho văn phạm ví dụ trên. Về lý thuyết, thuật  
toán 4.1 không bảo đảm sẽ hoạt động được trong trường hợp văn phạm có chứa các  
luật sinh ε, nhưng trong trường hợp này luật sinh A → ε rõ ràng là "vô hại".  
1. Sắp xếp các ký hiệu chưa kết thúc theo thứ tự S, A.  
2. Với i = 1, không có đệ qui trái trực tiếp nên không có điều gì xảy ra.  
Với i = 2, thay các S - luật sinh vào A → Sd được: A→ Ac | Aad | bd | ε  
Loại bỏ đệ qui trái trực tiếp cho các A luật sinh, ta được :  
S→ Aa | b  
A→ bdA'  
A'→ cA' | adA | ε  
4. Tạo ra yếu tố trái  
Tạo ra yếu tố trái (left factoring) là một phép biến đổi văn phạm rất có ích để có  
được một văn phạm thuận tiện cho việc phân tích dự đoán. Ý tưởng cơ bản là khi  
không rõ luật sinh nào trong hai luật sinh khả triển có thể dùng để khai triển một ký  
hiệu chưa kết thúc A, chúng ta có thể viết lại các A - luật sinh nhằm "hoãn" lại việc  
quyết định cho đến khi thấy đủ nguyên liệu cho một lựa chọn đúng.  
Xét văn phạm cho câu lệnh if:  
stmt → if expr then stmt else stmt  
| if expr then stmt  
71  
Khi gặp token if, chúng ta không thể quyết định ngay cần chọn luật sinh nào để  
triển khai cho stmt. Ðể giải quyết vấn đề này, một cách tổng quát, khi có luật sinh  
dạng A → αβ1 | αβ2, ta biến đổi luật sinh thành dạng :  
A → αA'  
A'→ β1 | β2  
‰ Giải thuật 4.2 : Tạo yếu tố trái cho văn phạm  
Input: Văn phạm G  
Output: Văn phạm tương đương với yếu tố trái.  
Phương pháp:  
Với mỗi ký hiệu chưa kết thúc A, có các ký hiệu dẫn đầu các vế phải giống nhau, ta  
tìm một chuỗi α là chuỗi có độ dài lớn nhất chung cho tất cả các vế phải (α là yếu tố  
trái). Giả sử A → αβ1 | αβ2 | ... | αβn | γ, trong đó γ không có chuỗi dẫn đầu chung với  
các vế phải khác. Ta biến đổi luật sinh thành :  
A → αA' | γ  
A'→ β1 | β2 | ... | βn  
Với A' là ký hiệu chưa kết thúc mới. Áp dụng lặp đi lặp lại phép biến đổi này cho  
đến khi không còn hai khả triển nào cho một ký hiệu chưa kết thúc có một tiền tố  
chung.  
Ví dụ 4.4: Áp dụng thuật toán 4.2 cho văn phạm sau:  
S → i E t S | i E t S eS | α  
E → b  
Ta có văn phạm tương đương có chứa yếu tố trái như sau :  
S → i E t S S' | α  
S' → eS | ε  
E → b  
III. PHÂN TÍCH CÚ PHÁP TỪ TRÊN XUỐNG  
Trong mục này, chúng ta giới thiệu các ý niệm cơ bản về phương pháp phân tích  
cú pháp từ trên xuống (Top Down Parsing) và trình bày một dạng không quay lui  
hiệu quả của phương pháp phân tích từ trên xuống, gọi là phương pháp phân tích dự  
đoán (predictive parser). Chúng ta định nghĩa một lớp văn phạm LL(1) (viết tắt của  
Left-to-right parse, Leftmost-derivation, 1-symbol lockahead ), trong đó phân tích dự  
đoán có thể xây dựng một cách tự động.  
1. Phân tích cú pháp đệ qui lùi (Recursive Descent Parsing)  
Phân tích cú pháp từ trên xuống có thể được xem như một nỗ lực tìm kiếm một dẫn  
xuất trái nhất cho chuỗi nhập. Nó cũng có thể xem như một nỗ lực xây dựng cây phân  
tích cú pháp bắt đầu từ nút gốc và phát sinh dần xuống lá. Một dạng tổng quát của kỹ  
thuật phân tích từ trên xuống, gọi là phân tích cú pháp đệ quy lùi, có thể quay lui để  
72  
quét lại chuỗi nhập. Tuy nhiên, dạng này thường rất ít gặp. Lý do là với các kết cấu  
ngôn ngữ lập trình, chúng ta hiếm khi dùng đến nó.  
2. Bộ phân tích cú pháp dự đoán (Predictive Parser)  
Trong nhiều trường hợp, bằng cách viết văn phạm một cách cẩn thận, loại bỏ đệ  
qui trái ra khỏi văn phạm rồi tạo ra yếu tố trái, chúng ta có thể thu được một văn phạm  
mà một bộ phân tích cú pháp đệ quy lùi phân tích được, nhưng không cần quay lui, gọi  
là phân tích cú pháp dự đoán.  
Xây dựng sơ đồ dịch cho bộ phân tích dự đoán:  
Ðể xây dựng sơ đồ dịch cho phương pháp phân tích xuống, trước hết loại bỏ đệ  
qui trái, tạo yếu tố trái cho văn phạm. Sau đó thực hiện các bước sau cho mỗi ký hiệu  
chưa kết thúc A :  
1. Tạo một trạng thái khởi đầu và một trạng thái kết thúc.  
2. Với mỗi luật sinh A → X1X2 ... Xn , tạo một đường đi từ trạng thái khởi đầu  
đến trạng thái kết thúc bằng các cạnh có nhãn X1X2 ... Xn  
Một cách cụ thể, sơ đồ dịch được vẽ theo các nguyên tắc sau:  
1. Mỗi ký hiệu chưa kết thúc tương ứng với một sơ đồ dịch trong đó nhãn  
cho các cạnh là token hoặc ký hiệu chưa kết thúc.  
2. Mỗi token tương ứng với việc đoán nhận token đó và đọc token kế tiếp  
x
3. Mỗi ký hiệu chưa kết thúc tương ứng với lời gọi thủ tục cho ký hiệu đó.  
A
4. Mỗi luật sinh có dạng A → α1 | α2 | ... | αn tương ứng với sơ đồ dịch  
α1  
α2  
αn  
5. Mỗi luật sinh dạng A → α1 α2.. .. αn tương ứng với sơ đồ dịch  
α
1  
α2  
αn  
Ví dụ 4.5: Xét văn phạm sinh biểu thức toán học  
E → E + T | T  
T → T * F | F  
73  
F → (E) | id  
Loại bỏ đệ quy trái trong văn phạm, ta được văn phạm tương đương sau :  
E → TE ‘  
E’ → + TE’ | ε  
T → FT ’  
T‘ → * FT ’ | ε  
F → (E) | id  
Một chương trình phân tích cú pháp dự đoán được thiết kế dựa trên sơ đồ dịch  
cho các ký hiệu chưa kết thúc trong văn phạm. Nó sẽ cố gắng so sánh các ký hiệu kết  
thúc với chuỗi nguyên liệu và đưa ra lời gọi đệ qui mỗi khi nó phải đi theo một cạnh  
có nhãn là ký hiệu chưa kết thúc.  
Các sơ đồ dịch tương ứng :  
+
E’  
T
E’  
T
3
4
5
0
1
E’  
T’  
E
6
2
ε
T
F
T‘  
*
)
F
T’  
7
8
10  
9
11  
12  
13  
ε
(
E
F
14  
15  
16  
17  
id  
Hình 4.5 - Các sơ đồ dịch cho các ký hiệu văn phạm  
Các sơ đồ dịch có thể được đơn giản hóa bằng cách thay sơ đồ này vào sơ đồ  
khác, những thay thế này tương tự như những phép biến đổi trên văn phạm.  
ε
T
+
+
T
⇒ E' :  
⇒ E :  
3
3
6
6
4
5
4
6
6
E' :  
E:  
ε
ε
+
T
T
+
T
ε
0
3
0
3
4
ε
Tương tự ta có:  
*
⇒ T:  
⇒ F:  
(
F
)
F
7
ε
14  
15  
16  
8
17  
13  
ε
Hình 4.6 - Rút gọn sơ đồ dịch  
Phân tích dự đoán không đệ qui  
74  
Chúng ta có thể xây dựng bộ phân tích dự đoán không đệ qui bằng cách duy trì  
tường minh một Stack chứ không phải ngầm định qua các lời gọi đệ quy. Vấn đề chính  
trong quá trình phân tích dự đoán là việc xác định luật sinh sẽ được áp dụng cho một  
biến ở bước tiếp theo. Một bộ phân tích dự đoán sẽ làm việc theo mô hình sau:  
INPUT  
a
b
$
+
STACK  
Chương trình  
OUTPUT  
X
Y
Z
$
phân tích  
Bảng phân tích M  
Hình 4.7 - Mô hình bộ phân tích cú pháp dự đoán không đệ quy  
- INPUT là bộ đệm chứa chuỗi cần phân tích, kết thúc bởi ký hiệu $.  
- STACK chứa một chuỗi các ký hiệu văn phạm với ký hiệu $ nằm ở đáy Stack.  
- Bảng phân tích M là một mảng hai chiều dạng M[A,a], trong đó A là ký hiệu chưa  
kết thúc, a là ký hiệu kết thúc hoặc $.  
Bộ phân tích cú pháp được điều khiển bởi chương trình hoạt động như sau: Chương  
trình xét ký hiệu X trên đỉnh Stack và ký hiệu nhập hiện hành a. Hai ký hiệu này xác  
định hoạt động của bộ phân tích cú pháp như sau:  
1. Nếu X = a = $ thì chương trình phân tích cú pháp kết thúc thành công.  
2. Nếu X = a ≠ $, Pop X ra khỏi Stack và đọc ký hiệu nhập tiếp theo.  
3. Nếu X là ký hiệu chưa kết thúc thì chương trình truy xuất đến phần tử M[X,a] trong  
bảng phân tích M:  
- Nếu M[X,a] là một luật sinh có dạng X → UVW thì Pop X ra khỏi đỉnh Stack  
và Push W, V, U vào Stack (với U trên đỉnh Stack), đồng thời bộ xuất sinh ra  
luật sinh X → UVW.  
- Nếu M[X,a] = error, gọi chương trình phục hồi lỗi.  
‰ Giải thuật 4.3 : Phân tích cú pháp dự đoán không đệ quy.  
Input: Chuỗi nhập w và bảng phân tích cú pháp M cho văn phạm G.  
Output: Nếu w ∈ L (G), cho ra một dẫn xuất trái của w. Ngược lại, thông báo lỗi.  
Phương pháp:  
Khởi đầu Stack chứa ký hiệu chưa kết thúc bắt đầu (S) trên đỉnh và bộ đệm chứa  
câu nhập dạng w$.  
Ðặt con trỏ ip trỏ tới ký hiệu đầu tiên của w$ ;  
Repeat  
Gọi X là ký hiệu trên đỉnh Stack và a là ký hiệu được trỏ bởi ip ;  
75  
If X là ký hiệu kết thúc hoặc $ then  
If X = a then lấy X ra khỏi Stack và dịch chuyển ip  
else error ( )  
Else // X là ký hiệu chưa kết thúc  
If M[X,a] = X → Y1 Y2 .... Yk then  
begin  
Lấy X ra khỏi Stack;  
Ðẩy Yk ,Yk-1, ... ,Y1 vào Stack;  
Xuất ra luật sinh X → Y1 Y2 .... Yk;  
end  
else error ( )  
/* Stack rỗng */  
Until  
X = $  
Ví dụ 4.6: Xét văn phạm đã được khử đệ qui trái sinh biểu thức toán học trong ví  
dụ 4.5 :  
E → TE’  
E’ → + TE’ | ε  
T → FT’  
T’ → * FT’ | ε  
F → (E) | id  
Bảng phân tích M của văn phạm được cho như sau : (ô trống tương ứng với lỗi)  
Ký hiệu chưa  
Ký hiệu nhập  
kết thúc  
id  
+
*
(
)
$
E
E → TE’  
E → TE’  
E'  
T
T'  
E → +TE’  
T’→ ε  
E→ ε  
E’→ ε  
T’→ ε  
T → FT‘  
F → id  
T → FT’  
F → (E)  
T’→ *FT’  
T’→ ε  
F
Hình 4.8 - Bảng phân tích cú pháp M cho văn phạm  
Quá trình phân tích cú pháp cho chuỗi nhập: id + id * id được trình bày trong bảng  
sau :  
STACK  
INPUT  
OUTPUT  
$ E  
id + id * id $  
id + id * id $  
$ E' T  
E → T E'  
76  
$ E' T' F  
$ E' T' id  
$ E' T'  
$ E'  
id + id * id $  
id + id * id $  
+ id * id $  
+ id * id $  
+ id * id $  
id * id $  
id * id $  
id * id $  
* id $  
T → F T'  
F → id  
T' → ε  
$ E' T +  
$ E' T  
E' → + T E'  
$ E' T' F  
$ E' T' id  
$ E' T'  
$ E' T' F *  
$ E' T' F  
$ E' T' id  
$ E' T'  
$ E'  
T → F T'  
F → id  
* id $  
T' → * F T'  
F → id  
id $  
id $  
$
T' → ε  
E' → ε  
$
$
$
Cây phân tích cú pháp được hình thành từ output :  
E
E'  
T
F
T'  
T
E'  
+
F
T'  
ε
id  
ε
F
T'  
id  
*
id  
ε
Nhận xét:  
- Mỗi văn phạm có một bảng phân tích M tương ứng.  
- Chương trình không cần thay đổi cho các văn phạm khác nhau.  
3. Hàm FIRST và FOLLOW  
FIRST và FOLLOW là các tập hợp cho phép xây dựng bảng phân tích M và phục  
hồi lỗi theo chiến lược panic_mode.  
‰ Ðịnh nghĩa FIRST(α): Giả sử α là một chuỗi các ký hiệu văn phạm, FIRST(α) là  
tập hợp các ký hiệu kết thúc mà nó bắt đầu một chuỗi dẫn xuất từ α.  
77  
Nếu α ⇒* ε thì ε ∈ FIRST(α).  
Cách tính FIRST(X): Thực hiện các quy luật sau cho đến khi không còn có ký  
hiệu kết thúc nào hoặc ε có thể thêm vào tập FIRST(X) :  
1. Nếu X là kí hiệu kết thúc thì FIRST(X) là {X}  
2. Nếu X → ε là một luật sinh thì thêm ε vào FIRST(X).  
3. Nếu X → Y1Y2Y3 ...Yk là một luật sinh thì thêm tất cả các ký hiệu kết thúc khác  
ε của FIRST(Y1) vào FIRST(X). Nếu ε ∈ FIRST(Y1) thì tiếp tục thêm vào  
FIRST(X) tất cả các ký hiệu kết thúc khác ε của FIRST(Y2). Nếu ε ∈  
FIRST(Y1) ∩ FIRST(Y2) thì thêm tất cả các ký hiệu kết thúc khác ε ∈  
FIRST(Y3) ... Cuối cùng thêm ε vào FIRST(X) nếu ε ∈ ∩ki=1 FIRST(Yi)  
Ví dụ 4.7: Với văn phạm sau:  
E → T E'  
E' → + T E' | ε  
T → F T'  
T' → * F T' | ε  
F → (E) | id  
Theo định nghĩa tập FIRST, ta có :  
Vì F ⇒ (E) | id ⇒ FIRST(F) = { (, id }  
Từ T → F T' và ε ∉ FIRST(F) ⇒ FIRST(T) = FIRST(F)  
Từ E → T E' và ε ∉ FIRST(T) ⇒ FIRST(E) = FIRST(T)  
Vì E' → ε ⇒ ε ∈ FIRST(E')  
Mặt khác do E' → + TE' mà FIRST(+) = {+} ⇒ FIRST(E') = {+, ε }  
Tương tự FIRST(T') = {*, ε }  
Vậy ta có :  
FIRST(E) = FIRST(T) = FIRST(F) = { (, id }  
FIRST(E') = {+, ε }  
FIRST(T') = {*, ε }  
‰ Ðịnh nghĩa FOLLOW(A): (với A là một ký hiệu chưa kết thúc) là tập hợp các ký  
hiệu kết thúc a mà nó xuất hiện ngay sau A (bên phía phải của A) trong một dạng  
câu nào đó. Tức là tập hợp các ký hiệu kết thúc a, sao cho tồn tại một dẫn xuất  
dạng S ⇒* αAaβ. Chú ý rằng nếu A là ký hiệu phải nhất trong một dạng câu nào  
đó thì $ ∈ FOLLOW(A) ($ là ký hiệu kết thúc chuỗi nhập ).  
Cách tính FOLLOW(A): Áp dụng các quy tắc sau cho đến khi không thể thêm gì  
vào mọi tập FOLLOW được nữa.  
1. Ðặt $ vào follow(S), trong đó S là ký hiệu bắt đầu của văn phạm và $ là ký hiệu  
kết thúc chuỗi nhập.  
78  
2. Nếu có một luật sinh A→ αBβ thì thêm mọi phần tử khác ε của FIRST(β)vào  
trong FOLLOW(B).  
3. Nếu có luật sinh A→ αB hoặc A→ αBβ mà ε ∈ FIRST(β) thì thêm tất cả các  
phần tử trong FOLLOW(A) vào FOLLOW(B).  
Ví dụ 4.8: Với văn phạm trong ví dụ 4.6 nói trên:  
Áp dụng luật 2 cho luật sinh F→ (E) ⇒ ) ∈ FOLLOW(E) ⇒ FOLLOW(E) ={$, ) }  
Áp dụng luật 3 cho E → TE' ⇒ ), $ ∈ FOLLOW(E') ⇒ FOLLOW(E') ={$, ) }  
Áp dụng luật 2 cho E → TE' ⇒ + ∈ FOLLOW(T).  
Áp dụng luật 3 cho E' → +TE' , E' → ε  
⇒ FOLLOW(E') ⊂ FOLLOW(T) ⇒ FOLLOW(T) = { +, ), $ }.  
Áp dụng luật 3 cho T→ FT' thì FOLLOW(T') = FOLLOW(T) ={+, ), $ }  
Áp dụng luật 2 cho T→ FT' ⇒ * ∈ FOLLOW(F)  
Áp dụng luật 3 cho T' → * F T' , T'→ ε  
⇒ FOLLOW(T') ⊂ FOLLOW(F) ⇒ FOLLOW(F) = {*, +, ), $ }.  
Vậy ta có: FOLLOW(E) = FOLLOW(E') = { $, ) }  
FOLLOW(T) = FOLLOW(T') = { +, ), $ }  
FOLLOW(F) = {*,+, ), $ }  
4. Xây dựng bảng phân tích M  
‰ Giải thuật 4.4 : Xây dựng bảng phân tích cú pháp dự đoán  
Input: Văn phạm G.  
Output: Bảng phân tích cú pháp M.  
Phương pháp:  
1. Với mỗi luật sinh A→ α của văn phạm, thực hiện hai bước 2 và 3.  
2. Với mỗi ký hiệu kết thúc a ∈ FIRST(α), thêm A→ α vào M[A,a].  
3. Nếu ε ∈ FIRST(α) thì đưa luật sinh A→ α vào M[A,b] với mỗi ký hiệu kết  
thúc b ∈ FOLLOW(A). Nếu ε ∈ FIRST(α) và $ ∈ FOLLOW(A) thì đưa luật  
sinh A→ α vào M[A,$].  
4. Ô còn trống trong bảng tương ứng với lỗi (error).  
Ví dụ 4.9: Áp dụng thuật toán trên cho văn phạm trong ví dụ 4.6. Ta thấy:  
Luật sinh E → TE' : Tính FIRST(TE') = FIRST(T) = {(,id}  
⇒ M[E,id] và M[E,( ] chứa luật sinh E → TE'  
Luật sinh E'→ + TE' : Tính FIRST(+TE') = FIRST(+) = {+}  
⇒ M[E',+] chứa E' → +TE'  
79  
Luật sinh E' → ε : Vì ε ∈ FIRST(E') và FOLLOW(E') = { ), $ }  
⇒ E → ε nằm trong M[E',)] và M[E',$]  
Luật sinh T'→ * FT' : FIRST(* FT') = {* }  
⇒ T' → * FT' nằm trong M[T',*]  
Luật sinh T' → ε: Vì ε ∈ FIRST(T') và FOLLOW(T') = {+, ), $}  
⇒ T' → ε nằm trong M[T', +] , M[T', )] và M[T',$]  
Luật sinh F→ (E) ; FIRST((E)) = { ( }  
⇒ F → ( E) nằm trong M[F, (]  
Luật sinh F → id ; FIRST(id) = {id}  
⇒ F → id nằm trong M[F, id]  
Bảng phân tích cú pháp M của văn phạm được xây dựng như trong hình 4.8.  
5. Văn phạm LL(1)  
Giải thuật 4.4 có thể áp dụng cho bất kỳ văn phạm G nào để sinh ra bảng phân tích  
M. Tuy nhiên, có những văn phạm (đệ quy trái hoặc mơ hồ) thì trong bảng phân tích  
M sẽ có thể có những ô đa trị (có chưá nhiều hơn 1 luật sinh).  
Ví dụ 4.10: Xét văn phạm sau:  
S → iE t S S' | a  
S' → eS | ε  
E → b  
Bảng phân tích cú pháp M của văn phạm như sau :  
Ký hiệu chưa Ký hiệu kết thúc  
kết thúc  
a
b
e
i
T
$
S→ iEtSS'  
S
S→ a  
S → ε  
S' → eS  
S'  
E
S'→ε  
E→b  
Hình 4.9 - Bảng phân tích cú pháp M cho văn phạm ví dụ 4.10  
Ðây là một văn phạm mơ hồ và sự mơ hồ này được thể hiện qua việc chọn luật  
sinh khi gặp ký hiệu e (else). Ô tại vị trí M [S', e] được gọi là ô đa trị.  
Một văn phạm mà bảng phân tích M không có các` ô đa trị được gọi là văn phạm  
LL(1) với ý nghĩa như sau :  
L: Left-to-right parse (mô tả hành động quét chuỗi nhập từ trái sang phải)  
L: Leftmost-derivation (biểu thị việc sinh ra một dẫn xuất trái cho chuỗi nhập)  
80  
1: 1-symbol lookahead (tại mỗi một bước, đầu đọc chỉ đọc trước được một token  
để thực hiện các quyết định phân tích cú pháp)  
Văn phạm LL(1) có một số tính chất đặc biệt. Không có văn phạm mơ hồ hay đệ  
quy trái nào có thể là LL(1). Người ta đã chứng minh rằng một văn phạm G là LL(1)  
nếu và chỉ nếu mỗi khi A → α | β là 2 luật sinh phân biệt của G, các điều kiện sau đây  
sẽ đúng:  
1. Không có một ký hiệu kết thúc a nào mà cả α và β đều dẫn xuất ra các chuỗi bắt  
đầu bằng a.  
2. Tối đa chỉ có α hoặc chỉ có β có thể dẫn xuất ra chuỗi rỗng.  
3. Nếu β ⇒* ε thì α không dẫn xuất được chuỗi nào bắt đầu bằng một ký hiệu kết  
thúc thuộc tập FOLLOW(A).  
Rõ ràng văn phạm trong ví dụ 4.5 cho các biểu thức số học là LL(1), nhưng văn  
phạm trong ví dụ 4.10 là văn phạm mô hình hóa câu lệnh if - then - else không phải là  
LL(1).  
Vấn đề đặt ra bây giờ là làm thế nào để giải quyết các ô đa trị? Một phương án khả  
thi là biến đổi văn phạm bằng cách loại bỏ mọi đệ quy trái, rồi tạo yếu tố trái khi có thể  
được với mong muốn sẽ sinh ra một văn phạm với bảng phân tích cú pháp không chứa  
ô đa trị nào. Nhưng cũng có một số văn phạm mà không có cách gì biến đổi thành văn  
phạm LL(1). Nói chung, không có quy tắc tổng quát nào để biến một ô đa trị thành ô  
đơn trị mà không làm ảnh hưởng đến ngôn ngữ đang được nhận dạng bởi bộ phân tích  
cú pháp.  
Khó khăn chính khi dùng một bộ phân tích cú pháp dự đoán là việc viết một văn  
phạm cho ngôn ngữ nguồn. Việc loại bỏ đệ quy trái và tạo yếu tố trái tuy dễ thực hiện  
nhưng chúng biến đổi văn phạm trở thành khó đọc và khó dùng cho các mục đích biên  
dịch.  
6. Phục hồi lỗi trong phân tích dự đoán  
Một lỗi sẽ được tìm thấy trong quá trình phân tích dự đoán khi:  
1. Ký hiệu kết thúc trên đỉnh Stack không phù hợp với token kế tiếp trong dòng  
nhập. Hoặc :  
2. Trên đỉnh Stack là ký hiệu chưa kết thúc A, token trong dòng nhập là a nhưng  
M[A,a] rỗng.  
Phục hồi lỗi theo phương pháp panic_mode là bỏ qua các ký hiệu trong dòng nhập  
cho đến khi gặp một phần tử trong tập hợp các token đồng bộ (synchronizing token).  
Tính hiệu quả của phương pháp này tùy thuộc vào cách chọn tập hợp các token  
đồng bộ. Một số heuristics có thể là:  
1. Ta có thể đưa tất cả các ký hiệu trong FOLLOW(A) vào trong tập hợp token  
đồng bộ cho ký hiệu chưa kết thúc A.  
2. FOLLOW(A) cũng chưa phải là một tập hợp các token đồng bộ cho A. Ví dụ,  
các lệnh của C kết thúc bởi ; (dấu chấm phẩy ). Nếu một lệnh thiếu dấu ; thì  
từ khóa của lệnh kế tiếp sẽ bị bỏ qua. Thông thường ngôn ngữ có cấu trúc  
81  
phân cấp, ví dụ biểu thức nằm trong một lệnh, lệnh nằm trong một khối lệnh,  
v.v. Chúng ta có thể thêm vào tập hợp đồng bộ của một cấu trúc những ký  
hiệu mà nó bắt đầu cho một cấu trúc cao hơn. Ví dụ, ta có thể thêm các từ  
khoá bắt đầu cho các lệnh vào tập đồng bộ cho ký hiệu chưa kết thúc sinh ra  
biểu thức.  
3. Nếu chúng ta thêm các phần tử của FIRST(A) vào tập đồng bộ cho ký hiệu  
chưa kết thúc A thì quá trình phân tích có thể hòa hợp với A nếu một ký hiệu  
trong FIRST(A) xuất hiện trong dòng nhập.  
Ví dụ 4.11: Sử dụng các ký hiệu kết thúc trong tập FOLLOW làm token đồng bộ  
hóa hoạt động khá hữu hiệu khi phân tích cú pháp cho các biểu thức trong văn phạm ví  
dụ 4.6.  
FOLLOW(E) = FOLLOW(E') = { $, )}  
FOLLOW(T) = FOLLOW(T') = { +,$, )}  
FOLLOW(F) = {*,+, $, )}  
Bảng phân tích M cho văn phạm này được thêm vào các ký hiệu đồng bộ "synch",  
lấy từ tập FOLLOW của các ký hiệu chưa kết thúc - xác định các token đồng bộ :  
Ký hiệu chưa Ký hiệu kết thúc  
kết thúc  
id  
+
*
(
)
$
E
F
synch  
synch  
E→TE'  
E→TE'  
E'  
T
E'→ +TE'  
synch  
E'→ ε  
synch  
T'→ ε  
synch  
E'→ ε  
synch  
T'→ ε  
synch  
T→ FT'  
F→ id  
T→ FT'  
F→ (E)  
T'  
T'→ ε  
T'→ *FT'  
synch  
synch  
Hình 4.10 - Bảng phân tích cú pháp M phục hồi lỗi  
Bảng này được sử dụng như sau:  
9 Nếu M[A,a] là rỗng thì bỏ qua token a.  
9 Nếu M[A,a] là "synch" thì lấy A ra khỏi Stack nhằm tái hoạt dộng quá trình  
phân tích.  
9 Nếu một token trên đỉnh Stack không phù hợp với token trong dòng nhập thì  
lấy token ra khỏi Stack.  
Chẳng hạn, với chuỗi nhập : + id * + id, bộ phân tích cú pháp và cơ chế phục hồi  
lỗi thực hiện như sau :  
STACK  
INPUT  
OUTPUT  
$ E  
+ id * + id $ error, nhảy qua +  
$ E  
id * + id $  
id * + id $  
E → T E'  
T → F T'  
$ E' T  
82  
$ E' T' F  
$ E' T' id  
$ E' T'  
$ E' T' F *  
$ E' T' F  
$ E' T'  
$ E'  
id * + id $  
id * + id $  
* + id $  
* + id $  
+ id $  
+ id $  
+ id $  
+ id $  
id $  
F → id  
T' → * F T'  
error, M[F,+] = synch pop F  
T → ε  
E' → + T E'  
$ E' T +  
$ E' T  
T' → F T'  
F→ id  
$ E' T' F  
$ E' T' id  
$ E' T'  
$ E'  
id $  
id $  
T' → ε  
E' → ε  
$
$
$
$
IV. PHÂN TÍCH CÚ PHÁP TỪ DƯỚI LÊN  
Phần này sẽ giới thiệu một kiểu phân tích cú pháp từ dưới lên tổng quát gọi là  
phân tích cú pháp Shift -Reduce. Một dạng dễ cài đặt của nó gọi là phân tích cú  
pháp thứ bậc toán tử (Operator - Precedence parsing) cũng sẽ được trình bày và cuối  
cùng, một phương pháp tổng quát hơn của kỹ thuật Shift - Reduce là phân tích cú  
pháp LR (LR parsing) sẽ được thảo luận.  
1. Bộ phân tích cú pháp Shift - Reduce  
Phân tích cú pháp Shift - Reduce cố gắng xây dựng một cây phân tích cú pháp cho  
chuỗi nhập bắt đầu từ nút lá và đi lên hướng về nút gốc. Ðây có thể xem là quá trình  
thu gọn (reduce) một chuỗi w thành một ký hiệu bắt đầu của văn phạm. Tại mỗi bước  
thu gọn, một chuỗi con cụ thể đối sánh được với vế phải của một luật sinh nào đó thì  
chuỗi con này sẽ được thay thế bởi ký hiệu vế trái của luật sinh đó. Và nếu chuỗi con  
được chọn đúng tại mỗi bước, một dẫn xuất phải đảo ngược sẽ được xây dựng.  
Ví dụ 4.12: Cho văn phạm:  
S → a A B e  
A→ A b c | b  
B → d  
Câu abbcde có thể thu gọn thành S theo các bước sau:  
a b b c d e  
a A b c d e  
a A d e  
83  
a A B e  
S
Thực chất đây là một dẫn xuất phải nhất đảo ngược như sau :  
S ⇒ rm aABe ⇒rm aAde ⇒rm aAbcde ⇒rm abbcde  
(Dẫn xuất phải nhất là chuỗi các thay thế ký hiệu chưa kết thúc phải nhất)  
2. Handle  
Handle của một chuỗi là một chuỗi con hợp với vế phải của luật sinh và nếu chúng  
ta thu gọn nó thành vế trái của luật sinh đó thì có thể dẫn đến ký hiệu chưa kết thúc bắt  
đầu.  
Ví dụ 4.13: Xét văn phạm sau:  
E → E + E  
E → E * E  
E → (E)  
E→ id  
Chuỗi dẫn xuất phải :  
E ⇒rm E + E  
(các handle được gạch dưới)  
⇒rm E + E * E  
⇒rm E + E * id3  
⇒rm E + id2 * id3  
⇒rm id1 + id2 * id3  
3. Cắt tỉa handle (Handle Pruning)  
Handle pruning là kỹ thuật dùng để tạo ra dẫn xuất phải nhất đảo ngược từ chuỗi ký  
hiệu kết thúc w mà chúng ta muốn phân tích.  
Nếu w là một câu của văn phạm thì w = γn. Trong đó, γn là dạng câu phải thứ n của  
dẫn xuất phải nhất mà chúng ta chưa biết.  
S ⇒ γ0 ⇒rm γ1 ⇒rm γ2 .. .. ⇒rmγn-1 ⇒rm γn = w  
Ðể xây dựng dẫn xuất này theo thứ tự ngược lại, chúng ta tìm handle βn trong γn và  
thay thế βn bởi An (An là vế trái của luật sinh An → βn) để được dạng câu phải thứ n -1  
là γn-1. Quy luật trên cứ tiếp tục. Nếu ta có một dạng câu phải γ0 = S thì sự phân tích  
thành công.  
Ví dụ 4.14: Với văn phạm:  
E → E + E | E * E | (E) | id  
Và câu nhập: id1 + id2 * id3 , ta có các bước thu gọn câu nhập thành ký hiệu bắt  
đầu E như sau :  
84  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 51 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 16080 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Nguyên lý ngôn ngữ lập trình - Chương IV: Phân tích cú pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_nguyen_ly_ngon_ngu_lap_trinh_chuong_iv_phan_tich.pdf