Giáo trình Mạng máy tính - Ngô Bá Hùng

Giáo trình mạng máy tính  
Biên tập bởi:  
Ngô Bá Hùng, Phạm Thế Phi  
Giáo trình mạng máy tính  
Biên tập bởi:  
Ngô Bá Hùng, Phạm Thế Phi  
Các tác giả:  
unknown  
Phiên bản trực tuyến:  
MỤC LỤC  
1/244  
Giới thiệu tổng quan về giáo trình  
A. MỤC ĐÍCH  
Giáo trình này nhằm giới thiệu với người đọc những nội dung chủ yếu sau:  
• Các khái niệm liên quan đến mạng máy tính  
• Những vấn đề liên quan đến truyền dữ liệu trong mạng máy tính  
• Nguyên tắc thiết kế phân tầng trong các hệ thống mạng máy tính.  
• Chức năng, nhiệm vụ của các thành phần trong một hệ thống mạng máy tính  
• Các giao thức thường được sử dụng trong mạng máy tính.  
B. NỘI DUNG CỐT LÕI  
Giáo trình được chia thành 8 chương với nội dung chủ yếu như sau:  
• Chương 1: Tổng quan về mạng máy tính : Chương này nhằm giới thiệu cho  
người học các loại mạng truyền dữ liệu đã tồn tại trước khi mạng máy tính ra  
đời, cấu trúc tổng quát của một mạng máy tính, hai chế độ truyền tải dữ liệu cơ  
bản là Chuyển mạch và Chuyển gói, những lợi ích mà mạng máy tính mang lại.  
• Chương 2: Các thành phần của mạng máy tính: Chương này nhằm giới  
thiệu cho người học các thành phần liên quan đến phần cứng của một mạng  
máy tính, sự phân loại mạng máy tính theo các tiêu chí khác nhau, kiến trúc  
phần mềm của một mạng máy tính, đặc biệt là kiến trúc có thứ bậc của các giao  
thức mạng, mô hình tham khảo OSI.  
• Chương 3: Tầng vật lý: Chương này nhằm giới thiệu cho người học mô hình  
của một hệ thống truyền dữ liệu đơn giản và các vấn đề có liên quan đến trong  
một hệ thống truyền dữ liệu sử dụng máy tính, các phương pháp số hóa thông  
tin, đặc điểm kênh truyền, tính năng kỹ thuật của các loại cáp truyền dữ liệu,  
các hình thức mã hóa dữ liệu số để truyền tải trên đường truyền.  
• Chương 4: Tầng liên kết dữ liệu: Chương này nhằm giới thiệu cho người học  
các chức năng cơ bản mà tầng liên kết dữ liệu đảm trách, vai trò của khung  
trong vấn đề xử lý lỗi đường truyền và các phương pháp xác định khung, các  
phương pháp phát hiện lỗi như Phương pháp kiểm tra chẵn lẽ, Phương pháp  
kiểm tra theo chiều dọc và Phương pháp kiểm tra phần dư tuần hoàn, các giao  
thức điều khiển lỗi cho phép theo dõi tình trạng lỗi của dữ liệu gởi đi, các giao  
thức xử lý lỗi chỉ ra các cách giải quyết trường hợp dữ liệu truyền đi bị lỗi.  
• Chương 5: Mạng cục bộ và tầng con điều khiển truy cập đường truyền:  
Chương này nhằm giới thiệu với người đọc các phương chia sẻ đường truyền  
chung giữa các máy tính trong một mạng cục bộ như: các phương pháp chia  
kênh, các phương pháp truy cập đường truyền ngẫu nhiên và các phương pháp  
3/244  
 
phân lượt truy cập đường truyền, chi tiết về nguyên tắc hoạt động của các  
chuẩn mạng cục bộ như họ các chuẩn mạng Ethernet, FDDI và mạng không  
dây  
• Chương 6: Tầng mạng : Chương này nhằm giới thiệu cho người đọc vai trò  
của router trong việc xây dựng các liên mạng có phạm vi rộng và không đồng  
nhất về chuẩn của các mạng cục bộ thành phần, các dịch vụ mà tầng mạng phải  
cung cấp cho tầng vận chuyển, cơ chế hoạt động của router , các vấn đề liên  
quan đến giải thuật chọn đường cho các router, bộ giao thức liên mạng IP.  
• Chương 7: Tầng vận chuyển: Chương này nhằm giới thiệu với người đọc vai  
trò của tầng vận chuyển và các chức năng mà tầng vận chuyển cung cấp cho  
tầng ứng dụng, ý nghĩa và cơ chế thiết lập nối kết và giải phóng nối kết cho các  
nối kết điểm – điểm, Chi tiết về giao thức TCP và UDP thuộc tầng vận chuyển  
• Chương 8: Tầng ứng dụng: Chương này nhằm giới thiệu cho người đọc một  
số các ứng dụng và giao thức tiêu biểu trên mạng Internet như DNS, MAIL,  
WEB và FTP.  
C. KIẾN THỨC TIÊN QUYẾT  
• Kiến trúc máy tính  
• Hệ điều hành  
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyễn Hoàng Việt, Bài giảng Mạng máy tính, Khoa CNTT, 1998  
2. Phạm Hoàng Dũng, Nguyễn Đình Tê, Hoàng Đức Hải, Giáo trình Mạng  
máy tính, nhà xuất bản giáo dục, 1996  
3. Nguyễn Thúc Hải, Mạng máy tính và các hệ thống mở, Nhà xuất bản giáo dục,  
1999  
4. Andrew S. Tanenbeau,Computer Networks, Fourth Edition, Prentice Hall Inc.,  
2003  
5. William Stallings, Data & Computer Communication, Sixth Edition, Prentice  
Hall Inc. , 2000  
6. Behrouz A. Forouzan,Data Communications and Networking, Third Edition,  
Mc Graw Hill, 2003  
7. Larry L. Peterson & Bruce S. Davie, Computer Networks A System  
Approach, Third Edition, Morgan Haufmann, 2003.  
4/244  
Chương 1: Tổng quan về mạng máy tính  
Tổng quan về mạng máy tính  
Mạng điện báo  
Mạng điện báo sử dụng hệ thống mã Morse để mã hóa thông tin cần truyền đi. Mã Morse  
sử dụng hai tín hiệu là tít và te (ký hiệu bằng dấu chấm (.) và dấu gạch ngang (-)). Mỗi  
một ký tự latin sẽ được mã hóa bằng một chuỗi tíc/te riêng biệt, có độ dài ngắn khác  
nhau. Để truyền thông tin đi, bên gởi sẽ lần lượt mã hóa từng ký tự của thông điệp thành  
mã Morse, bên nhận sau đó sẽ thực hiện quá trình giải mã. Văn bản được truyền đi được  
gọi là một thông điệp (message) hay một thư tín (Telegram).  
Vào năm 1851 mạng thư tín đầu tiên được sử dụng để nối hai thành phố London và  
Paris. Sau đó không lâu, hệ thống mạng này được mở rộng toàn châu Âu.  
Cấu trúc của mạng gồm có hai thành phần là Trạm điện báo (Telegraph Station) và Trạm  
chuyển điện báo ( Telegraph Switching Station) được nối lại với nhau bằng hệ thống  
dây truyền dẫn.  
Trạm điện báo là nơi cho phép truyền và nhận các thông điệp dưới dạng các mã Morse,  
thông thường được thể hiện bằng âm thanh tít và te. Để truyền và nhận thông tin cần có  
một điện báo viên thực hiện quá trình mã hóa và giải mã thông tin truyền/nhận.  
Vì không thể nối trức tiếp tất cả các trạm điện báo lại với nhau, người ta sử dụng các  
Trạm chuyển điện báo để cho phép nhiều trạm điện báo sử dụng chung một đường  
truyền để truyền tin. Tại mỗi trạm chuyển điện báo có một thao tác viên chịu trách nhiệm  
nhận các điện báo gởi đến, xác định đường đi để chuyển tiếp điện báo về nơi nhận. Nếu  
đường truyền hướng về nơi nhận đang đuợc sử dụng để truyền một điện báo khác, thao  
tác viên sẽ lưu lại điện báo này để sau đó truyền đi khi đường truyền rãnh.  
Để tăng tốc độ truyền tin, hệ thống Baudot thay thế mã Morse bằng mã nhị phân 5 bits  
(có thể mã hóa cho 32 ký tự). Các trạm điện báo cũng được thay thế bằng các máy têlêtíp  
(teletype terminal) cho phép xuất / nhập thông tin dạng ký tự. Hệ thống sử dụng kỹ thuật  
biến điệu (Modulation) và đa hợp (Multiplexing) để truyền tải thông tin.  
5/244  
 
Mạng điện thoại  
Mạng chuyển mạch  
Mạng điện thoại cho phép truyền thông tin dưới dạng âm thanh bằng cách sử dụng hệ  
thống truyền tín hiệu tuần tự.  
Mạng điện thoại hoạt động theo chế độ chuyển mạch định hướng nối kết (circuit  
switching), tức thiết lập đường nối kết tận hiến giữa hai bên giao tiếp trước khi thông tin  
được truyền đi (connection oriented).  
Mạng hướng đầu cuối  
Mạng hướng đầu cuối  
Đây là mô hình của các hệ thống máy tính lớn (Main Frame) vào những năm của thập  
niên 1970. Hệ thống gồm một máy chủ mạnh (Host) có năng lực tính toán cao được nối  
kết với nhiều thiết bị đầu cuối đần độn (Dumb terminal) chỉ làm nhiệm vụ xuất nhập  
thông tin, giao tiếp với người sử dụng.  
Mạng máy tính  
Mạng máy tính là mạng của hai hay nhiều máy tính được nối lại với nhau bằng một  
đường truyền vật lý theo một kiến trúc nào đó.  
Mạng có thể có kiến trúc đơn giản như hình dưới đây:  
6/244  
Mạng cục bộ đơn giản  
Hoặc phức tạp hơn đó là hệ thống gồm nhiều mạng đơn giản nối lại với nhau như hình  
sau:  
Một hệ thống mạng tổng quát được cấu thành từ 3 thành phần:  
• Đường biên mạng ( Network Edge): Gồm các máy tính (Host) và các chương  
trình ứng dụng mạng (Network Application)  
• Đường trục mạng ( Network Core): Gồm các bộ chọn đường (router) đóng vài  
trò là một mạng trung tâm nối kết các mạng lại với nhau.  
• Mạng truy cập, đường truyền vật lý (Access Network , physical media): Gồm  
các đường truyền tải thông tin.  
Mạng diện rộng phức tạp  
Đường biên mạng  
Bao gồm các máy tính (Host) trên mạng nơi thực thi các chương trình ứng dụng mạng  
(Network Application). Đôi khi người ta còn gọi chúng là các Hệ thống cuối (End  
Systems) với ý nghĩa đây chính là nơi xuất phát của thông tin di chuyển trên mạng, cũng  
như là điểm dừng của thông tin.  
7/244  
Quá trình trao đổi thông tin giữa hai máy tính trên mạng có thể diễn ra theo hai mô hình:  
Mô hình Khách hàng / Người phục vụ (Client / server model) hay Mô hình ngang hàng  
(peer-to-peer model).  
Đường biên mạng  
Mô hình khách hàng/người phục vụ (client/server):  
Trong mô hình này một máy tính sẽ đóng vai trò là client và máy tính kia đóng vai trò  
là server.  
Máy tính client sẽ gởi các yêu cầu (request) đến máy tính server để yêu cầu server thực  
hiện công việc gì đó. Chẳng hạn khi người dùng duyệt web trên mạng Internet, trình  
duyệt web sẽ gởi yêu cầu đến web server đề nghị web server gởi về trang web tương  
ứng.  
Máy tính server khi nhận được một yêu cầu từ client gởi đến sẽ phân tích yêu cầu để  
hiểu được client muốn đều gì, để thực hiện đúng yêu cầu của client. Server sẽ gởi kết  
quả về cho client trong các thông điệp trả lời (reply). Ví dụ, khi web server nhận được  
một yêu cầu gởi đến từ trình duyệt web, nó sẽ phân tích yêu cầu để xác định xem client  
cần nhận trang web nào, sau đó mở tập tin html tương ứng trên đĩa cứng cục bộ của nó  
để gởi về trình duyệt web trong thông điệp trả lời.  
Một số ứng dụng được xây dựng theo mô hình client / server như: www, mail, ftp,...  
Mô hình ngang cấp (peer-to-peer):  
Trong mô hình này, một máy tính vừa đóng vai trò là client, vừa đóng vai trò là server.  
Một số ứng dụng thuộc mô hình này như: Gnutella, KaZaA  
8/244  
Đường trục mạng  
Mạng đường trục  
Là hệ thống mạng của các bộ chọn đường (routers), làm nhiệm vụ chọn đường và  
chuyển tiếp thông tin, đảm bảo sự trao đổi thông tin thông suốt giữa hai máy tính nằm  
trên hai nhánh mạng cách xa nhau.  
Câu hỏi đặt ra là làm sao thông tin có thể được truyền đi trên mạng? Người ta có thể sử  
dụng một trong hai chế độ truyền tải thông tin là: Chuyển mạch (circuit switching) và  
chuyển gói (packet switching).  
Chuyển mạch (circuit switching)  
Mạng chuyển mạch  
Chế độ này hoạt động theo mô hình của hệ thống điện thoại. Để có thể giao tiếp với máy  
B, máy A phải thực hiện một cuộc gọi (call). Nếu máy B chấp nhận cuộc gọi, một kênh  
ảo được thiết lập dành riêng cho thông tin trao đổi giữa A và B.  
9/244  
Tất cả các tài nguyên được cấp cho cuộc gọi này như băng thông đường truyền, khả  
năng của các bộ hoán chuyển thông tin đều được dành riêng cho cuộc gọi, không chia  
sẻ cho các cuộc gọi khác, mặc dù có những khoảng lớn thời gian hai bên giao tiếp “im  
lặng”.  
Tài nguyên (băng thông) sẽ được chia thành nhiều những “phần” bằng nhau và sẽ gán  
cho các cuộc gọi. Khi cuộc gọi sở hữu một “phần” tài nguyên nào đó, mặc dù không sử  
dụng đến nó cũng không chia sẻ tài nguyên này cho các cuộc gọi khác.  
Việc phân chia băng thông của kênh truyền thành những “phần” có thể được thực hiện  
bằng một trong hai kỹ thuật: Phân chia theo tần số (FDMA-Frequency Division Multi  
Access  
) hay phân chia theo thời gian (TDMA- Time Division Multi Access).  
Mạng chuyển gói  
Mạng chuyển gói  
Trong phương pháp này, thông tin trao đổi giữa hai máy tính (end systems) được phân  
thành những gói tin (packet) có kích thước tối đa xác định.  
Gói tin của những người dùng khác nhau ( ví dụ của A và B) sẽ chia sẻ nhau băng thông  
của kênh truyền. Mỗi gói tin sẽ sử dụng toàn bộ băng thông của kênh truyền khi nó được  
phép. Điều này sẽ dẫn đến tình trạng lượng thông tin cần truyền đi vượt quá khả năng  
đáp ứng của kênh truyền. Trong trường hợp này, các router sẽ ứng sử theo giải thuật lưu  
và chuyển tiếp (store and forward), tức lưu lại các gói tin chưa gởi đi được vào hàng đợi  
chờ cho đến khi kênh truyền rãnh sẽ lần lượt gởi chúng đi.  
So sánh mạng chuyển mạch và mạng chuyển gói  
Chuyển gói cho phép có nhiều người sử dụng mạng hơn:  
10/244  
Chia sẻ đường truyền trong mạng chuyển gói  
Giả sử:  
• Một đường truyền 1 Mbit  
• Mỗi người dùng được cấp 100Kbps khi truy cập “active”  
• Thời gian active chiếm 10% tổng thời gian.  
Khi đó:  
• circuit-switching: cho phép tối đa 10 users  
• packet switching: cho phép 35 users, (xác suất có hơn 10 “active” đồng thời là  
nhỏ hơn 0.004)  
Chuyển gói:  
• Thích hợp cho lượng lưu thông dữ liệu lớn nhờ cơ chế chia sẻ tài nguyên và  
không cần thiết lập cuộc.  
• Cần có cơ chế điều khiển tắt nghẽn và mất dữ liệu.  
• Không hỗ trợ được cơ chế chuyển mạch để đảm bảo tăng băng thông cố định  
cho một số ứng dụng về âm thanh và hình ảnh.  
Mạng truy cập  
11/244  
Mạng truy cập  
Cho phép nối các máy tính vào các router ngoài biên. Nó có thể là những loại mạng sau:  
• Mạng truy cập từ nhà, ví dụ như sử dụng hình thức modem dial qua đường điện  
thoại hay đường ADSL.  
• Mạng cục bộ cho các công ty, xí nghiệp.  
• Mạng không dây.  
Các lợi ích của mạng máy tính  
Mạng tạo khả năng dùng chung tài nguyên cho các người dùng.  
Vấn đề là làm cho các tài nguyên trên mạng như chương trình, dữ liệu và thiết bị, đặc  
biệt là các thiết bị đắt tiền, có thể sẵn dùng cho mọi người trên mạng mà không cần quan  
tâm đến vị trí thực của tài nguyên và người dùng.  
Về mặt thiết bị, các thiết bị chất lượng cao thường đắt tiền, chúng thường được dùng  
chung cho nhiều người nhằm giảm chi phí và dễ bảo quản.  
Về mặt chương trình và dữ liệu, khi được dùng chung, mỗi thay đổi sẽ sẵn dùng cho mọi  
thành viên trên mạng ngay lập tức. Điều này thể hiện rất rõ tại các nơi như ngân hàng,  
các đại lý bán vé máy bay...  
Mạng cho phép nâng cao độ tin cậy.  
Khi sử dụng mạng, có thể thực hiện một chương trình tại nhiều máy tính khác nhau,  
nhiều thiết bị có thể dùng chung. Điều này tăng độ tin cậy trong công việc vì khi có máy  
tính hoặc thiết bị bị hỏng, công việc vẫn có thể tiếp tục với các máy tính hoặc thiết bị  
khác trên mạng trong khi chờ sửa chữa.  
Mạng giúp cho công việc đạt hiệu suất cao hơn.  
Khi chương trình và dữ liệu đã dùng chung trên mạng, có thể bỏ qua một số khâu đối  
chiếu không cần thiết. Việc điều chỉnh chương trình (nếu có) cũng tiết kiệm thời gian  
hơn do chỉ cần cài đặt lại trên một máy.  
Về mặt tổ chức, việc sao chép dữ liệu phòng hờ tiện lợi hơn do có thể giao cho chỉ một  
người thay vì mọi người phải tự sao chép phần của mình.  
12/244  
Tiết kiệm chi phí.  
Việc dùng chung các thiết bị ngoại vi cho phép giảm chi phí trang bị tính trên số người  
dùng. Về phần mềm, nhiều nhà sản xuất phần mềm cung cấp cả những ấn bản cho nhiều  
người dùng, với chi phí thấp hơn tính trên mỗi người dùng.  
Tăng cường tính bảo mật thông tin.  
Dữ liệu được lưu trên các máy phục vụ tập tin (file server) sẽ được bảo vệ tốt hơn so với  
đặt tại các máy cá nhân nhờ cơ chế bảo mật của các hệ điều hành mạng.  
Việc phát triển mạng máy tính đã tạo ra nhiều ứng dụng mới  
Một số ứng dụng có ảnh hưởng quan trọng đến toàn xã hội: khả năng truy xuất các  
chương trình và dữ liệu từ xa, khả năng thông tin liên lạc dễ dàng và hiệu quả, tạo môi  
trường giao tiếp thuận lợi giữa những người dùng khác nhau, khả năng tìm kiếm thông  
tin nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới,...  
13/244  
Chương 2: Các thành phần của mạng máy  
tính  
Các thành phần của mạng máy tính  
Phần cứng mạng máy tính  
Phân loại mạng máy tính theo kỹ thuật truyền tin  
Dựa theo kỹ thuật truyền tải thông tin, người ta có thể chia mạng thành hai loại là Mạng  
quảng bá (Broadcast Network) và mạng điểm nối điểm (Point – to – point Network)  
Mạng quảng bá  
Trong hệ thống mạng quảng bá chỉ tồn tại một kênh truyền được chia sẻ cho tất cả các  
máy tính. Khi một máy tính gởi tin, tất cả các máy tính còn lại sẽ nhận được tin đó. Tại  
một thời điểm chỉ cho phép một máy tính được phép sử dụng đường truyền.  
Mạng điểm nối điểm  
Trong hệ thống mạng này, các máy tính được nối lại với nhau thành từng cặp. Thông tin  
được gởi đi sẽ được truyền trực tiếp từ máy gởi đến máy nhận hoặc được chuyển tiếp  
qua nhiều máy trung gian trước khi đến máy tính nhận.  
Phân loại mạng máy tính theo phạm vị địa lý  
Trong cách phân loại này người ta chú ý đến đại lượng Đường kính mạng chỉ khoảng  
cách của hai máy tính xa nhất trong mạng. Dựa vào đại lượng này người ta có thể phân  
mạng thành các loại sau:  
14/244  
 
Mạng cục bộ  
Đây là mạng thuộc loại mạng quảng bá, sử dụng một đường truyền có tốc độ cao, băng  
thông rộng, có hình trạng (topology) đơn giản như mạng hình bus, mạng hình sao (Star  
topology), mạng hình vòng (Ring topology).  
Mạng hình bus  
Mạng hình Bus  
Tất cả các máy tính được nối lại bằng một dây dẫn (Cáp đồng trục gầy hoặc đồng trục  
béo). Khi một trong số chúng thực hiện truyền tin, tín hiệu sẽ lan truyền đến tất cả các  
máy tính còn lại. Nếu có hai máy tính truyền tin cùng một lúc thì sẽ dẫn đến tình trạng  
đụng độ và trạng thái lỗi xẩy ra.  
Mạng hình sao  
Mạng hình sao  
Các máy tính được nối trực tiếp vào một Bộ tập trung nối kết, gọi là Hub. Dữ liệu được  
chuyển qua Hub trước khi đến các máy nhận. Hub có nhiều cổng (port), mỗi cổng cho  
15/244  
phép một máy tính nối vào. Hub đóng vai trò như một bộ khuyếch đại (repeater). Nó  
khuyếch đại tín hiệu nhận được trước khi truyền lại tín hiệu đó trên các cổng còn lại.  
Ưu điểm của mạng hình sao là dễ dàng cài đặt, không dừng mạng khi nối thêm vào hoặc  
lấy một máy tính ra khỏi mạng, cũng như dễ dàng phát hiện lỗi. So với mạng hình Bus,  
mạng hình sao có tín ổn định cao hơn.  
Tuy nhiên nó đòi hỏi nhiều dây dẫn hơn so với mạng hình bus. Toàn mạng sẽ bị ngưng  
hoạt động nếu Hub bị hư. Chi phí đầu tư mạng hình sao cao hơn mạng hình Bus.  
Mạng hình vòng  
Mạng hình vòng  
Tồn tại một thẻ bài (token: một gói tin nhỏ) lần lượt truyền qua các máy tính. Một máy  
tính khi truyền tin phải tuân thủ nguyên tắc sau:  
• Chờ cho đến khi token đến nó và nó sẽ lấy token ra khỏi vòng tròn.  
• Gởi gói tin của nó đi một vòng qua các máy tính trên đường tròn.  
• Chờ cho đến khi gói tin quay về  
• Đưa token trở lại vòng tròn để nút bên cạnh nhận token  
Mạng đô thị  
Mạng đô thị  
16/244  
Mạng MAN được sử dụng để nối tất cả các máy tính trong phạm vi toàn thành phố. Ví  
dụ như mạng truyền hình cáp trong thành phố.  
Mạng diện rộng  
Mạng diện rộng  
Mạng LAN và mạng MAN thông thường không sử dụng các thiết bị chuyển mạch, điều  
đó hạn chế trong việc mở rộng phạm vi mạng về số lượng máy tính và khoảng cách.  
Chính vì thế mạng diện rộng được phát minh.  
Trong một mạng WAN, các máy tính (hosts)được nối vào một mạng con (subnet) hay  
đôi khi còn gọi là đường trục mạng (Backbone), trong đó có chứa các bộ chọn đường  
(routers) và các đường truyền tải (transmission lines).  
Lưu và chuyển tiếp trong mạng WAN  
Các Routers thông thường có nhiệm vụ lưu và chuyển tiếp các gói tin mà nó nhận được  
theo nguyên lý cơ bản sau: Các gói tin đến một router sẽ được lưu vào trong một hàng  
chờ, kế đến router sẽ quyết định nơi gói tin cần phải đến và sau đó sẽ chuyển gói tin lên  
đường đã được chọn.  
Mạng không dây  
Nếu phân biệt mang theo tiêu chí hữu tuyến hay vô tuyến thì ta có thêm các loại mạng  
không dây sau:  
Nối kết hệ thống (System interconnection)  
17/244  
Mạng này nhằm mục đích thay thế hệ thống cáp nối kết các thiết bị cục bộ vào máy tính  
như màn hình, bàn phím, chuột, phone, loa ,....  
(a) Thiết bị không dây, (b) Mạng cục bộ không dây  
Mạng cục bộ không dây (Wireless LANs):  
Tất cả các máy tính giao tiếp với nhau thông qua một trạm cơ sở (Base Station) được  
nối bằng cáp vào hệ thống mạng.  
Mạng diện rộng không dây (Wireless WANs):  
Thông thường mạng điện thoại di động số thuộc dạng này. Với các công nghệ mới cho  
phép băng thông mạng có thể đạt đến 50 Mbps với khoảng cách vài kilomet  
Mạng diện rộng không dây  
Trong hình (a ) các máy tính sử dụng công nghệ mạng vô tuyến để nối kết với router.  
Ngược lại trong hình (b), các máy tính được nối bằng đường dây hữu tuyến với một  
router, để từ đó router sử dụng kỹ thuật vô tuyến để liên lạc với các router khác.  
Liên mạng (Internetwork)  
Thông thường một mạng máy tính có thể không đồng nhất ( homogeneous), tức có sự  
khác nhau về phần cứng và phần mềm giữa các máy tính. Trong thực tế ta chỉ có thể xây  
18/244  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 246 trang myanh 24740 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Mạng máy tính - Ngô Bá Hùng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_mang_may_tinh_ngo_ba_hung.pdf